Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

SỰ KIỆN NÔNG DÂN THÁI BÌNH NỔI DẬY NĂM 1997

NTT – Trong bài “Bạo lực đỏ” tôi có nhắc tới sự kiện nông dân tỉnhThái Bình nổi dậy chống lại lãnh đạo chính quyền vi phạm luật đất đai và tham nhũng. Sự kiện này dù được nghe “truyền miệng” nhiều nhưng lại ít thấy có cuốn sách nào, tờ báo chính thống nào nói một cách đầy đủ và hệ thống. Mới đây TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH chỉ đạo cho ra đời cuốn TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH do NXB Văn hóa Thông tin xuất bản 2010 đã có 4 mục nói về sự kiện này.
Cuốn sách, theo lời giới thiệu của ông Bùi Tiến Dũng – Bí thư tỉnh ủy – Chủ tịch HĐND tỉnh giới thiệu, “gồm 5.000 mục từ với hơn 1.300 trang”, đáng được xem là một công trình từ điển bách khoa về Thái Bình.
Không ngại va chạm để nói đến những sự kiện lịch sử có tính bước ngoặt, lần đầu tiên một ấn phẩm, một công trình đồ sộ do Tỉnh Thái Bình xuất bản chính thức đưa Sự kiện Thái Bình 1997 vào sách dưới những đề mục nhỏ, như một sự công nhận lịch sử mà không hề chối bỏ.
Cuốn TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH là sách tra cứu và không phải ai cũng có thể sở hữu vì số bản in không nhiều. Đối với sự kiện Thái Bình năm 1997, có 4 đề mục nhỏ là: Vụ Quỳnh Hoa, Vụ Quỳnh Hội, Vụ Quỳnh Mỹ và Vụ Thái Thịnh.
“Khi nông dân ra phố” xin trân trọng giới thiệu lại toàn bộ 4 vụ này trong cuôn TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH để chúng ta cùng đọc và suy ngẫm.

1. Vụ Quỳnh Hoa

“Điểm nóng số 1 của tỉnh. Chiều ngày 16/6/1997, khoảng 300 người dân xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ đã bắt giữ Bí thư Đảng ủy, chủ tịch UBND xã và Phó ban tài chính xã dong lên huyện, đi bộ trên quãng đường 7km dưới trời mưa không cho đội mũ nón, vừa đi vừa lăng mạ, chử bới, đánh đập. UBND huyện cứ người ra tiếp, trong cuộc đối thoại, yêu sách của dân tập trung vào việc đòi xử lý cán bộ xã tham nhũng, tiêu cực; huyện yêu cầu trả tự do cho cán bộ xã và hứa cử đoàn thanh tra về làm rõ, nếu cán bộ vi phạm sẽ xử lý.
Sau đó, tại xã Quỳnh Hoa vẫn tiếp tục tiếp diễn tình trạng lăng mạ, vây ép đòi cán bộ xã phải ký vào những văn bản do một số người thảo sẵn. Ngày 12/9/1997, 34 cán bộ xã Quỳnh Hoa gồm Đảng ủy, UBND, Công an, xã đội, các đoàn thể HTX nông nghiệp và 6/10 trưởng xóm mang 6 con dấu và đơn xin nghỉ việc lên trả cho huyện. Không khí ở địa phương rất căng thẳng, ngày nào cũng có hàng trăm người lên UBND xã chất vấn cán bộ. Ngày 12/11/1997, khoảng 400 người dân xã Quỳnh Hoa kéo lên UBND tỉnh khiếu tố, đòi gặp chủ tịch tỉnh.
Do không chấp nhận giải thích của lãnh đạo UBND tỉnh, một số người đã hành động quá khích, gây rối trật tự công cộng, lăng mạ chửi bới cán bộ trước cổng UBND tỉnh. Đoàn người tập trung ngòai cổng trụ sở UBND tỉnh từ sáng tới chiều tôi thì nhiều người trèo qua cổng và hàng rào tràn vào UBND tỉnh, đập phá cửa kính, hò hét, chửi bới.
Trước tình hình đó, ngày 13/11 cơ quan bảo vệ pháp luật đã bắt một số người phạm pháp quả tang trong đoàn khiếu kiện tại thị xã và tại xã Quỳnh Hoa. Đối phó lại, ngay chiều tối hôm ấy, tại xã Quỳnh Hoa hàng nghìn người bao vây cản trở không cho công an thi hành nhiệm vụ, lùng sục bắt giữ 23 công an và 1 cán bộ Viện kiểm sát nhân dân tỉnh; cướp 1 máy bộ đàm ném xuống ao, phá hỏng 1 xe ô tô; đối xử tàn nhẫn thô bạo với những người bị bắt đồng thời tổ chức rào làng, đặt chướng ngại vật, huy động thanh thiếu niên sử dụng dao kiếm, côn gậy tuần tra canh gác, liê tục đánh kẻng, gõ mõ báo động, kiểm soát chặt chẽ “nội bất xuất, ngoại bất nhập” gây không khí căng thẳng.
Trong khi đó, hàng trăm người ở các xã Quỳnh Mỹ, Quỳnh Giao, Quỳnh Thọ, An Ấp, An Thái cũng kéo sang Quỳnh Hoa, càng làm cho tình hình thêm phức tạp.
Sau 2 ngày thuyết phục vận động, đến 16h ngày 16/11/1997, 20 cán bộ chiến sĩ công an mới được trả tự do (4 chiến sĩ đã tự giải thoát)
Hoạt động của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể xã Quỳnh Hoa hoàn toàn bị tê liệt, không kiểm soát được tình hình. Các đoàn công tác của tỉnh, huyện cũng phải rút khỏi Quỳnh Hoa. Sự kiện Quỳnh Hoa gây chấn động dư luận, thu hút sự quan tâm chú ý của cả nước.
Từ ngày 2 đến 4/7/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án “gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, bắt giữ người trái pháp luật” xảy ra tại Quỳnh Hoa. Vụ án có 40 bị cáo, đông nhất từ trước đến nay ở Thái Bình, 28 bị cáo bị tạm giam, 12 bị cáo tại ngoại, một số bị cáo là thương binh, đối tượng chính sách.
Đào Văn Tá bị xử phạt 11 năm 6 tháng tù giam, Nguyễn Văn Hội 9 năm tù giam, Nguyễn Xuân Hùng 8 năm tù giam. Các bị cáo khác bị phạt tù từ 7 năm đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Đồng thời cơ quan cảnh sát điều tra Thái Bình cũng quyết định khởi tố vụ tham ô tài sản XHCN đối với Nguyễn Thanh Vận, Phan Văn Phền, Chủ nhiệm và nguyên chủ nhiệm HTX nông nghiệp Quỳnh Hoa.”
Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1082 – 1083.

2. Vụ Quỳnh Hội

“Sự kiện khởi đầu của tình hình mất ổn định chính trị – xã hội ở Thái Bình. Trong 2 tháng cuối 1996, hàng trăm người ở xã Quỳnh Hội huyện Quỳnh Phụ nhiều lần lên xã, huyện, tỉnh khiếu tố về việc UBND huyện Quỳnh Phụ không thực hiện quỹ đất 5% là trái với chủ trương của tỉnh; các khoản dân phải đóng góp quá lớn; cán bộ xã có hành vi tham nhũng, tiêu cực. Dân yêu cầu cấp trên thanh tra, xử lí cán bộ sai phạm.
Ngày 5/12/1996, UBND huyện Quỳnh Phụ thành lập đoàn thanh tra liên ngành, tiến hành thanh tra việc xây dựng cơ bản, ngân sách xã và kinh tế HTX Nông nghiệp. Kết quả thanh tra xây dựng cơ bản (trạm bơm, cải tạo mương máng, làm đường giao thông…) bước đầu phát hiện có dấu hiệu tham ô 90.600.000 đồng.
Thanh tra kinh tế, tài chính xã, phát hiện chi sai nguyên tắc 48.275.000 đồng. Ngoài ra còn có nhiều biểu hiện tiêu cực trong việc mua thóc giống, vay tiền cá nhân sử dụng cho HTX với lãi suất cao…
19h30 ngày 26/12/1996, Chi nhánh điện Quỳnh Phụ ngừng cấp điện cho xã vì còn nợ chi nhánh 3.800.000 đồng. Hàng nghìn người trong xã kéo đến nhà chủ tịch UBD xã thắc mắc và một số người quá khích đã đập phá tài sản, làm thiệt hại khoảng 3.000.000 đồng.
Ngay sau khi sự việc xảy ra, dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo công an tỉnh, của Thường trực huyện ủy, UBND huyện Quỳnh Phụ, lực lượng công an và các ngành đã tập trung giải quyết nhằm ổn định tình hình.
Ngày 26/12/1996, Công an huyện Quỳnh Phụ đã khởi tố vụ án gây rối trật tự công cộng, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Toán, Phạm Văn Quýnh, Nguyễn Tiến Mừng.
Ngày 14/1/1997, khởi tố điều tra vụ án tham ô, cố ý làm trái gây thiệt hại tài sản XHCN, khởi tố 3 bị can: Đặng Đình Thảo (Bí thư Đảng ủy xã, nguyên Chủ nhiệm HTX), Nguyễn Quốc Dũng (kế toán trưởng), Vũ Thị Tám (thủ quỹ HTX nông nghiệp).” Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1083.

3. Vụ Quỳnh Mỹ

Vu gây rối trật tự nghiêm trọng nhất. Ngày 6/5/1997, Phạm Hữu Hoành, Phạm Văn Tới và Nguyễn Văn Ty tự nhận là đại diện cho nhân dân đứng ra in giấy mời, triệu tập Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã, Bí thư chi bộ, xóm trưởng, trưởng các ban ngành của xã về Hội trường UBND để họp bàn chống tham nhũng.
Tại đây Phạm Hữu Hoành công khai đả kích , phê phán chính quyền xã, kích động quần chúng kéo lên huyện, tỉnh yêu cầu xử lý những cán bộ mà họ cho là tham nhũng.
Xét hành vi của Phạm Hữu Hoành và Phạm Văn Tới có dấu hiệu về tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước và xã hội”, ngày 8/5/1997, Công an huyện Quỳnh Phụ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt Phạm Hữu Hoành và Phạm Văn Tới. Lập tức, từ ngày 9 đến 11/5/1997, hàng nghìn người xã Quỳnh Mỹ và các xã lân cận liên tiếp kéo lên huyện đòi thả người bị bắt.
Chiều 10/5, khoảng 3.000 người đã tràn vào Viện kiểm sát nhân dân huyện, một số người đã đập phá phòng làm việc và lăng mạ, súc phạm Viện trưởng; thu và xé tài liệu của Viện kiểm sát nhân dân.
Tình hình càng căng thẳng khi hàng trăm người của xã Quỳnh Hồng cùng số dân xã Quỳnh Mỹ kéo đến bao vây trụ sở công an huyện. Trong suốt 6 giờ đồng hồ (từ 19 giờ ngày 10/5 đến 1 giờ sáng ngày 11/5) khoảng 2.000 người tụ tập trước trụ sở công an huyện. Lợi dụng đêm tối, một số người quá khích hò hét, chửi bới, xô đổ cổng, dậu của Công an huyện và trường Đảng huyện; dùng gạch đá tấn công trụ sở và cán bộ chiến sĩ công an đang làm nhiệm vụ. Họ còn dùng các vật cản chắn đường ô tô, ngăn không cho lực lượng công an tỉnh và công an các huyện tăng cường; đồng thời tổ chức săn lùng, đánh đuổi các chiến sĩ công an. 11 cán bộ chiến sĩ công an bị thương, nhiều tài sản bị hư hỏng, trong đó có 3 xe chữa cháy, 1 xe cứu thương, 1 xe chở quân, vỡ nhiều lá chắn, hỏng toàn bộ cánh cửa nhà 2 tầng, hệ thống chiếu sáng và nhiều máy móc thông tin liên lạc..
Để giảm bớt áp lực của quần chúng, tạm ổn định tình hình, Thường trực Tỉnh ủy và UBND Tỉnh đã họp bàn thống nhất chủ trương tạm tha 2 đối tượng bị bắt. Được thể, một số người ở Quỳnh Mỹ đã ép Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện phải ký vào văn bản họ viết sẵn, thừa nhận việc bắt người là sai rồi công bố trên Đài truyền thanh xã Quỳnh Mỹ và tổ chức ăn mừng thắng lợi.
Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1083 – 1084.

4. Vụ Thái Thịnh

Vụ tham nhũng, tiêu cực và gây rối trật tự công cộng điển hình ở huyện Thái Thụy.
Ngày 25/6/1997, 60 người dân xã Thái Thịnh lên UBND tỉnh kiến nghị giải quyết thanh quyết toán các công trình xây dựng của xã và tố cáo Chủ tịch xã vi phạm luật đất đai, tham nhũng. Buổi tối cùng ngày, quần chúng họp tại 2 địa điểm xóm 1 và xóm 5 để nghe thông báo kết quả đi khiếu kiện ở tỉnh về.
14h ngày 26/6/1997, trong lúc Đảng bộ xã đang họp bàn chủ trương thực hiện công văn số 279 của UBND tỉnh, hơn 200 người kéo đến bao vây trụ sở, yêu cầu xã phải thực hiện ngay công văn số 279. Chủ tịch xã ra giải quyết yêu cầu mọi người giải tán. Quần chúng không nghe và có lời lẽ thô tục, lăng mạ.
5h chiều cùng ngày, Chủ tịch huyện cùng đoàn cán bộ huyện Thái Thụy về xã Thái Thịnh để giải quyểt, hứa sẽ chỉ đạo xã thực hiện nghiêm túc công văn 279 của UBND tỉnh. Có tới hàng nghìn quần chúng tụ tập tại trụ sở UBND xã. Những người quá khích đã ào lên vây giữ Chủ tịch huyện và đoàn cán bộ. Lực lượng công an tìm cách đưa được Chủ tịch huyện ra ngoài. Chủ tịch xã và Trưởng công an huyện bị một số phần tử xấu hành hung trọng thương. 6 cán bộ khác của xã, trong đó có Bí thư Đảng ủy và 3 an ninh viên bị xâm phạm đến thân thể. Toàn bộ bàn ghế, cánh cửa, tủ đựng tài liệu, tăng âm, loa đài của xã và HTX bị đập phá và mất 13,600,000 đồng quỹ UBND xã.
Sau đó, họ kéo đập phá nhà, tài sản gia đình Phạm Văn Chiêm (Chủ tịch xã), Phạm Văn Nghị (Phó Chủ tịch xã), Đinh Thị Tâng (Cán bộ địa chính xã), gây nhiều thiệt hại.
Tình hình rối loạn diễn ra từ 7 giờ tối ngày 26/6 đến 1 giờ sáng ngày 27/6/1997.
Để giải quyết ổn thỏa tình hình xã Thái Thịnh, Thường trực Tỉnh ủy Thái Bình đã chỉ đạo 3 ngành Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án tiến hành đồng thời việc điều tra truy tố những đối tượng quá khích, gây rối trật tự công cộng, vi phạm pháp luật với việc truy tố những cán bộ xã có hành vi tham nhũng, tiêu cực là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc khiếu kiện phức tạp của quần chúng.
Ngày 3/7/1997, Công an tỉnh đã thực hiện lệnh bắt 5 đối tượng chủ yếu (Vũ Văn Kiện, Vũ Văn Tuấn, Phạm Văn Vịnh, Ngô Thị Duyên, Phạm Văn Khuynh) trong 36 đối tượng gây rối trật tự công cộng, cố ý hủy hoại tài sản XHCN, tài sản công dân, cố ý gây thương tích, xảy ra đêm 26/6/1997 tại Thái Thịnh.
Đồng thời, Công an tỉnh khẩn trương điều tra, xác định Phạm Văn Chiêm (Chủ tịch xã từ 1991 – 1997) đã cấp trái phép 23.686m2 đất và đã cùng Phạm Văn Thiện (Phó ban tài chính xã) vi phạm các quy định về chế độ, nguyên tắc quản lí kinh tế nhà nước, gây thất thoát ngân sách xã hơn 220 triệu đồng. Chiêm tham ô 24.670.000 đồng, Thiện tham ô 63.804 ngàn đồng.
Một số cán bộ chủ chốt khác của xã như Phạm Thanh Nghị (Phó chủ tịch xã) , Phạm Văn Thái (Bí thư Đảng ủy xã), Phạm Huy Khản (Phó Bí thư Đảng ủy xã), Phạm Thị Duyên (Thủ quỹ UBND xã) đồng phạm gây thất thoát 154 triệu đồng ngân sách xã. Ngoài ra, Nghị còn tham ô 13 triệu đồng, Thái 11 triệu đồng, Khản hơn 2 triệu đồng, Duyên 5 triệu đồng, Tăng hơn 13 triệu đồng.
Trích: TỪ ĐIỂN THÁI BÌNH. TỈNH ỦY-HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN-ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH. NXB VĂN HÓA THÔNG TIN. 2010. Trang 1084 – 1085.
Nguồn: Nguyenvanhoc

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Nam sinh viên lên kế hoạch... giết 10 người để được nhập nhóm game

Vốn học khá nhưng Trọng lại lao đầu vào trò chơi trên mạng. Để được tham gia vào một nhóm game online, Trọng vạch ra kế hoạch... giết đủ 10 người theo yêu cầu của chủ nhóm.

Là niềm hy vọng duy nhất của gia đình, Phạm Văn Trọng (SN 1993, ngụ huyện Châu Thành, tỉnh An Giang) được cha mẹ nghèo chắt chiu gửi tiền cho con học đại học ở Cần Thơ.
Đối tượng Trọng tại cơ quan công an
Đối tượng Trọng tại cơ quan công an
Trước đó, Trọng đang chơi game thì nhận được mệnh lệnh “ảo” từ chủ nhóm game phải giết 10 người nếu muốn tham gia cùng nhóm. Không biết thật hay là lời đùa quái ác của chủ nhóm game nhưng Trọng đinh ninh đó là mệnh lệnh thật. Sau khi thoát game và quay về xóm trọ, nam sinh viên này bắt đầu lập kịch bản giết người hàng loạt.
Theo đó, Trọng có ý định mỗi ngày sẽ giết một người, đủ 5 nam và 5 nữ. Trọng mua 2 con dao, khẩu trang, găng tay và một chiếc ba lô màu đen. Đến ngày 12/6, kế hoạch dã man này bắt đầu được nam sinh viên mê game thực hiện.
Khoảng 20h, Trọng gấp một bộ quần áo và nhét hai con dao vào ba lô rồi bước lững thững ra đường 3 tháng 2. Đến cầu Rạch Ngỗng là đoạn nối giữa quận Ninh Kiều và quận Cái Răng, Trọng thấy một người xe ôm tên Nguyễn Thanh Tâm (SN 1974, ngụ ấp Thạnh Lợi A1, xã Tân Long, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) nên quyết định ra tay với anh này.
Trọng vờ nói nhà ở dưới huyện Phong Điền, gia đình có chuyện gấp nên phải về trong đêm. Hai bên thoả thuận giá chở xe ôm là 50.000 đồng. Làm nghề xe ôm đã nhiều năm kinh nghiệm, chở khách đi xa trong đêm luôn phải đề phòng, nhưng anh Tâm thấy Trọng gầy gò, hiền lành, thư sinh nên chẳng mảy may nghi ngờ.
Theo hướng dẫn của Trọng, để đi gần hơn thì nên đi đường 61B chứ không đi đường 1A. Anh xe ôm biết đường 61B ban đêm vắng người, lại không có bóng điện chiếu sáng như quốc lộ 1A nhưng vì tin tưởng khách nên đồng ý lộ trình như theo hướng dẫn của Trọng. Trên đường đi, hai người trò chuyện khá rôm rả và vui vẻ, Trọng giới thiệu mình đang là sinh viên năm thứ hai, đại học Cần Thơ. Do cha ốm nặng đột xuất nên mẹ gọi về gấp trong đêm.
Xe bon bon chạy đến cầu Kinh Tắc, địa phận thuộc xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ thì Trọng đề nghị được xuống xe vì sắp đến nhà. Đây là đoạn đường vắng, trời tối om, nhưng anh xe ôm không chút nghi ngờ, liền giảm ga rồi dừng xe theo đề nghị của khách. Vờ lục ba lô để lấy 50.000 đồng trả tiền xe ôm như đã thoả thuận, bất ngờ Trọng cầm rút dao đâm một nhát chí mạng vào sau lưng anh xe ôm.
Nạn nhân chống trả thì bị Trọng đâm tiếp. Dù vậy, anh xe ôm nhanh chóng cầm được tay kẻ sát nhân, hai bên vật lộn cùng ngã xuống vệ đường. Tranh thủ lúc ấy, anh xe ôm vùng dậy trước, vừa tháo chạy vừa hô cứu. Quyết giết người đến cùng, Trọng cố gắng đuổi theo. Được một đoạn, do một số người đi đường dừng lại can ngăn, gia đình bên đường chạy ra xem nên Trọng thôi đuổi nạn nhân, đồng thời chạy bộ theo hướng xuống TP Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Do biết Trọng đang cầm hung khí nên không ai dám đuổi theo mà gọi điện báo công an địa phương. Trong lúc đó, nạn nhân sợ hãi, sau khi thoát thân thì chạy xe máy ngược lại về phía TP Cần Thơ. Đi được khoảng 10 km thì đến trụ sở công an phường Ba Láng, quận Cái Răng. Sau khi trình bày xong sự việc, anh nhanh chóng đến bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ cấp cứu.
Rất may cho nạn nhân, anh chỉ bị thương và chảy máu bên ngoài, vết thương không nguy hiểm đến tính mạng. Sau sự việc kinh hoàng xảy ra, anh Tâm chưa hết bàng hoàng. “Chưa bao giờ tôi nghĩ trong đời mình lại gặp phải một tình huống khó khăn như vậy. Số tôi còn may, nếu không đã chẳng còn được sống trên đời”, anh tâm sự.
Anh này cho biết thêm, vợ chồng anh có con trai đã được 8 tuổi. Anh là người gánh vác mọi công việc gia đình.
Về phía hung thủ, sau khi giết người bất thành, Trọng chạy bộ dọc theo quốc lộ 61B để tẩu thoát. Qua phản ánh của người dân, công an huyện Phong Điền bắt được Trọng khi hắn đang chạy bộ theo hướng xuống TP Vị Thanh, cách hiện trường chỉ khoảng 1 km.
Đại tá Nguyễn Văn Mun, Trưởng công an huyện Phong Điền, Thủ trưởng cơ quan điều tra huyện cho biết, sau khi bị bắt vì hành vi giết người, đối tượng vẫn u mê, khai rằng kế hoạch giết người đã được suy nghĩ kỹ càng, vạch sẵn từ trước đó nên “cảm thấy tiếc vì việc giết người không thành công”. Trọng thừa nhận, việc giết người của mình là xuất phát từ việc nguyện vọng muốn được tham gia vào một nhóm game online.
“Đặc biệt nguy hiểm hơn, tên này còn khai rằng sẽ phải giết tổng cộng 10 người theo chỉ định của nhóm trưởng game online để trở thành thành viên của nhóm. Rất may chúng tôi đã kịp thời ngăn cản suy nghĩ điên rồ này của đối tượng”, một điều tra viên cho biết.
Theo kết quả xác minh của cơ quan công an, Trọng từng là một sinh viên học khá trong hai năm đầu đại học. Trọng nghiện game từ năm lớp 10, lên đại học, sau giờ lên lớp và tự học, ngày nào Trọng cũng dành khoảng 4 tiếng đồng hồ đánh game.
Gia cảnh đối tượng này khá đặc biệt, cha mẹ đều làm nghề nông, cuộc sống vất vả. Trọng là con lớn trong gia đình, sau là em gái mới học lớp 6. Hằng tháng, cha mẹ Trọng cố gắng tích cóp được 2 triệu đồng để gửi lên cho con trai ăn học ở Cần Thơ. Nhiều tháng không kiếm đủ 2 triệu, cha mẹ phải vay hàng xóm. Cũng có khi kiếm được 200 – 300 ngàn đồng cũng gửi cho con trai.
Trước khi sự việc đau lòng xảy ra khoảng một tuần, Trọng nói với gia đình cần gấp tiền để đăng ký học thêm. Chạy vạy không kịp, gia đình đã bán chiếc xe honda duy nhất để có tiền gửi cho con. Khi biết tin con trai gây án chỉ vì những yêu cầu mù quáng trong thế giới áo, cha mẹ Trọng đã sốc nặng.
Theo Minh Hữu
Pháp luật Việt Nam

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Làm giàu nhờ cây dó trầm

(PLOL) Ở xã Phúc Trạch (Hương Khê, Hà Tĩnh), nông dân đang ồ ạt chặt bỏ cây đặc sản để trồng cây dó trầm. Không ít người nhờ loài cây này mà thành tỉ phú…
Ngày trước, người dân Hương Khê từng “ngậm ngải tìm trầm”. Bây giờ, họ cũng là những người đầu tiên mang cây dó trầm về trồng ở vườn nhà và quanh rào. Nhiều nông dân ở đây đã trở thành tỉ phú từ loài cây này.
Làng tỉ phú dó trầm
Trở lại vùng bưởi Phúc Trạch (Hương Khê, Hà Tĩnh) nổi tiếng lần này, tôi thấy bạt ngàn cây dó trầm từ nhỏ đến lớn vươn lên lấn át cây bưởi. Các con đường liên xã, liên thôn đã được tráng nhựa hoặc đổ bê tông, những ngôi nhà tươm tất, giàu có hơn.
Bây giờ, phần lớn diện tích bưởi, cam và cây ăn quả hay cây rừng khác ở đây đã bị đốn hạ để nhường đất cho cây dó trầm. Khi có người lạ vào làng, người dân xã Phúc Trạch luôn canh dè, bởi họ sợ bị chặt trộm cây dó trầm ở bờ rào.
Chỉ tay vào những cây dó trầm có dấu sơn xanh đỏ, ông Phạm Văn Nghĩa, một lái trầm, nói: “Đó là những cây trầm đã được chủ bán đứng trên vườn. Chủ và người mua thỏa thuận giá cả xong cùng nhau ra UBND xã xin xác nhận việc mua bán rồi bôi sơn lên thân cây đánh dấu để phân biệt với cây chưa bán. Người mua có thể thỏa thuận với chủ để cây dó trầm sống trong vườn 1-10 năm sau mới đến chặt mang đi bán”.

Ông Thái Văn Quý (xã Phúc Trạch, Hương Khê, Hà Tĩnh) đang khoan vào thân cây dó để bón thuốc kích thích tạo trầm.
Vườn nhà ông Nguyễn Xuân Quế (cựu chiến binh ở xóm 5, xã Phúc Trạch) rộng nửa hecta nhưng hiện có 3.000 cây dó trầm, lác đác trong vườn vẫn còn vài cây bưởi, cây cam. Chỉ cây dó trầm có đường kính chừng 25 cm bên bờ rào, ông Quế nói: “Cây đó thương lái ở Huế, Đà Nẵng ra đây trả 80 triệu đồng mà tôi chưa bán đó. Hiện tôi có 500 cây đã có trầm trong vườn nhà, nếu bán ở thời điểm hiện nay thì hơn cả tỉ đồng”. Gần nhà ông Quế, nhiều thương lái đến trả một cây trầm trong vườn nhà bà Trần Thị Mục với giá 250 triệu đồng nhưng bà Mục chưa bán. Bà nói: “Tôi già rồi, chưa cần tiêu tiền nhiều thế, bán chi!”.
Bà Trần Thị Hà, Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch, kể hôm trước ông Hoàng Trung Thành, Phó Bí thư Đảng ủy xã, phải đốn hàng cây dó trầm ở bờ rào để nhường đất mở đường giao thông. “Chỉ hàng cây đó thôi mà anh Thành bán được gần cả tỉ đồng. Ông Nguyễn Văn Thiện, Trưởng công an xã, bán chỉ năm cây dó trầm thôi mà cũng được những 500 triệu đồng. Từ hoàn cảnh gia đình khó khăn, đến nay hộ ông Thái Văn Phương (ở xóm 6) có vườn trầm trị giá 2 tỉ đồng, ông Nguyễn Hồng Thái (xóm 8) có vườn dó trầm trị giá gần 1,5 tỉ đồng…”.
Nghề ươm dó trầm cũng phất theo
Để có tiền cho ba đứa con cùng lúc học ĐH, vợ chồng anh Phạm Văn Tân ở xã Phúc Trạch phải “bán đứng” ba cây dó trầm trong vườn nhà được 30 triệu đồng để gửi cho các con. Nay các con anh Tân ra trường thì ba cây dó trầm này trị giá hàng trăm triệu đồng.
Chủ tịch xã Phúc Trạch Trần Thị Hà khoe: “Xã chúng tôi đang giàu lên không phải nhờ bưởi mà nhờ cây dó trầm. Có cái lạ là bưởi trồng ở đất Phúc Trạch cho quả ngon ngọt hơn bưởi cùng cây giống trồng ở các xã cạnh bên. Cây dó trầm trồng ở xã Phúc Trạch này cũng lại cho trầm nhiều hơn, được thương lái chuộng mua nhất, giá cao nhất. Ví như hai cây dó có bán kính bằng nhau nhưng cây dó ở xã tôi bán được 8 triệu đồng thì ở các xã bên chỉ bán được 2 triệu đồng thôi”.
Nhiều gia đình ở đây cũng phất lên nhờ bán cây dó trầm giống. Theo báo cáo của UBND huyện Hương Khê, ở huyện có một doanh nghiệp và hơn 40 hộ gia đình làm vườn ươm cây dó giống, thu nhập bình quân 200 triệu đồng/hộ/năm. Đầu năm 2013, nhu cầu cây giống của người dân tăng cao, nguồn cung ứng hạt giống khan hiếm, có thời điểm giá hạt dó trầm lên tới 2 triệu đồng/kg, giá cây giống thì tăng gấp đôi so với năm trước. Nhiều người ở TP Hà Tĩnh, TP Vinh (Nghệ An) và cả Hà Nội đang tìm đến xã Phúc Trạch mua đất để trồng cây dó trầm.
Cây dó trầm con ở huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) được bán với giá 10.000-20.000 đồng/cây.
Đóng tiền cho xã để… bảo vệ dó trầm
“Do cây dó trầm có giá trị kinh tế cao nên tình hình cưa trộm, tranh chấp cây dó trầm khá phức tạp. Từ đầu năm 2013 đến nay, chúng tôi đã phải xử lý ba, bốn vụ cưa trộm dó trầm rồi. Hằng năm chúng tôi đưa ra quy định kiểu hương ước là người dân bán một cây trầm thì phải góp 100.000 đồng vào quỹ để chính quyền địa phương tăng cường lực lượng bảo vệ cây dó trầm. Nếu người đi mua trầm tranh giành, đánh nhau thì chính quyền địa phương chịu trách nhiệm. Chúng tôi đang xin cấp trên đưa cây dó trầm vào cây mũi nhọn phát triển kinh tế” - Chủ tịch xã Phúc Trạch Trần Thị Hà cho biết.
Chị Trần Thị Mận (xóm 7, xã Phúc Trạch) đã dựng hàng rào bằng dây thép gai và cổng sắt nhưng vẫn bị cưa trộm cây dó gần 10 năm tuổi. Vừa qua, Công an xã Phúc Trạch điều tra ra bảy đối tượng cưa trộm cây dó của chị. Bảy kẻ trộm đã đền cây dó cho chị với số tiền 30 triệu đồng, còn công an thì không xử lý hình sự vì khi định giá tài sản thì cây này chỉ có mấy trăm ngàn đồng!
Trưởng Công an xã Phúc Trạch Nguyễn Văn Thiện phàn nàn: “Cây dó trầm càng ngày càng đắt nên đang làm đau đầu chúng tôi, hằng ngày đều có giao dịch mua bán nhưng khó kiểm soát hết được. Dó trầm trồng bạt ngàn cả xã, những lúc có mưa, gió lớn thì kẻ trộm hay cưa hạ cây dó trầm, chúng tôi phải khoanh vùng và tăng cường lực lượng. Có những cây dó trầm bị mất trộm trị giá hàng chục hoặc hàng trăm triệu đồng theo giá thị trường nhưng khi áp dụng định giá thì cây dó trầm rất thấp nên không thể lập hồ sơ xử lý hình sự” (?!).

Cây dó trầm của bà Trần Thị Mục (xã Phúc Trạch) được thương lái trả hơn 250 triệu đồng nhưng bà Mục chưa bán. Ảnh trong bài: ĐẮC LAM
Ồ ạt trồng dó trầm
Trong mảnh vườn lèo tèo mấy cây bưởi, cha con ông Thái Văn Quý (xóm 7, xã Phúc Trạch) đang lúi húi dùng khoan máy khoan thủng nhiều lỗ vào thân cây dó cao to. Ông nói: “Trồng bưởi không ăn thua nữa, cả xã tôi đang có phong trào trồng cây dó trầm. Vừa qua, con gái tôi làm công nhân ở Bình Dương bị tai nạn giao thông cần tiền mổ cấp cứu. Tôi rút điện thoại ra gọi cho thương lái đến bán một cây trầm được 15 triệu đồng, kịp gửi vào cho con. Cây dó trầm có tiền vậy dại gì không bỏ bưởi trồng dó!”.
Ngay cả Chủ tịch xã Phúc Trạch Trần Thị Hà cũng bỏ bưởi trồng trầm. Bà Hà nói: “Cây dó trầm đang lấn át cây bưởi Phúc Trạch. Hai năm trở lại đây dân ồ ạt đầu tư trồng cây dó trầm. Gia đình tôi hiện đã trồng được hơn ba sào với hơn 1.000 cây dó, hiện vườn chỉ còn 40-50 cây bưởi thôi. Năm trước có một cây dó nhỏ bị lũ ngập thối rễ tôi bán cũng được 9 triệu đồng. Vừa rồi có tập đoàn ở Trung Quốc đến xin hợp tác với UBND xã Phúc Trạch cùng thu mua cây dó trầm nhưng xã không thể liên kết được vì không đưa ra được cái giá cụ thể của cây dó trầm”.
Trước sức hấp dẫn của cây dó trầm, người dân ở Hương Khê đang hạ gục bưởi để trồng dó, toàn huyện ước tính hiện có gần 1.000 ha dó trầm. Không chỉ người dân mà các trường học, các công ty cũng đua nhau trồng cây dó. Điển hình như Công ty Cao su Hương Khê đã trồng 20 ha dó trầm, Ban Quản lý rừng phòng hộ Ngàn Sâu cũng trồng 171 ha…
Trăn trở bảo tồn bưởi Phúc Trạch
Hà Tĩnh là nơi có diện tích cây dó trầm lớn nhất nước với khoảng 3.000 ha. Nhiều hộ gia đình đang triệt hạ cả vườn bưởi đặc sản (bưởi Phúc Trạch đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý từ năm 2010) để trồng cây dó trầm.
Ông Phạm Quang Ngọ, Phó Chủ tịch UBND xã Phúc Trạch (Hương Khê, Hà Tĩnh), cho biết: “Diện tích bưởi Phúc Trạch trên địa bàn xã trước đây hơn 250 ha nhưng mấy năm nay cây dó trầm đang lấn át dần. Diện tích bưởi hiện chỉ còn gần 80 ha, trong đó khoảng 20 ha còn hiệu quả, số còn lại đang còi cọc dưới gốc cây dó trầm. Chủ trương của xã hiện nay là cố gắng giữ lại 60-100 ha cây bưởi truyền thống”.
Ông Lê Tiến Đài, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Hương Khê, trăn trở: “Việc trồng cây dó trầm thời gian qua là hoàn toàn tự phát, không nằm trong quy hoạch cơ cấu cây trồng của tỉnh và huyện. Để bảo tồn cây bưởi đặc sản, UBND huyện Hương Khê có chính sách khuyến khích người dân bằng cách ai trồng mới 1 ha bưởi thì được hỗ trợ 50 triệu đồng và sẵn sàng cho vay vốn để trồng thành vườn, trang trại”.
Ông Đài nói biết là nhu cầu thị trường về cây dó trầm là rất lớn. “Tuy nhiên, huyện chưa dám chỉ đạo khuyến khích người dân trồng nhiều vì chưa biết rõ thị trường chắc chắn thế nào. Nhỡ may trồng ồ ạt rồi sau này không ai mua thì sao”.
Trước thực trạng đó, huyện Hương Khê đã báo cáo xin ý kiến từ UBND tỉnh Hà Tĩnh và các sở, ban ngành để giúp địa phương định hướng đối với việc phát triển cây dó trầm. Vừa qua, đoàn cán bộ Sở Nông nghiệp, cán bộ kiểm lâm và UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng đã về gặp gỡ người dân và khảo sát cây dó trầm. Tuy vậy, hiện địa phương vẫn đang loay hoay, trong khi người dân thì đang rất ồ ạt phá bưởi trồng dó trầm.
ĐẮC LAM

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Gọi cho chính xác sự kiện Truông Bồn


(PXC: Mấy năm nay ôi đã nói chuyện này với nhiều người mà chưa viết ra được. Xin cám ơn nhà báo Nguyễn Thông)
Thật cảm động khi biết báo Tiền Phong phối hợp với một số cơ quan, đơn vị tổ chức lễ kỷ niệm 44 năm ngày hy sinh của những anh hùng liệt sĩ ở truông Bồn (tỉnh Nghệ An). Và tôi thở phào nhẹ nhõm khi Ban tổ chức đặt cho chương trình đầy ý nghĩa và cảm động này cái tên "Truông Bồn, huyền thoại và tri ân". Rất biết ơn báoTiền Phong đã gọi chính xác tên một sự kiện lịch sử.

Có tâm trang ấy bởi mấy bữa nay trên một số tờ báo và đài truyền hình, cụ thể là VTV, toàn dùng hô ngữ "kỷ niệm chiến thắng Truông Bồn". Tôi nhắn với ông bạn tôi, người vừa viết một mạch mấy bài về những TNXP dũng cảm bám trụ truông Bồn, một tấc không đi một li không dời, rằng sao lại cứ đem thứ tư duy cổ lỗ sĩ "ta thắng địch thua" gán cho mọi điều, cái gì cũng phải chiến thắng, chiến thắng. Cứ phải thắng thì mới vinh quang hay sao. Chiến trường khốc liệt, quân dân ta chiến đấu với kẻ thù mạnh hơn gấp bội, hy sinh là chuyện khó tránh. Một sự kiện, theo như những người có trách nhiệm thời ấy ghi lại "vào lúc 6 giờ đến 6 giờ 10 phút ngày 31.10.1968, trận bom thù trút xuống truông Bồn đường 15A, một ngày trước khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, đã cướp đi sinh mạng của 13 TNXP (gồm 1 nam, 12 nữ) đại đội 317 TNXP Nghệ An". Chừng ấy người chết (hy sinh) khiến chúng ta đau lòng, tưởng nhớ, biết ơn, nhưng bảo là "chiến thắng" thì hoàn toàn không phải. Gọi tên cho chính xác không phải là xem thường, hạ thấp công ơn các liệt sĩ mà để có cách biểu lộ, ứng xử cho phải đạo.


Tôi mong rằng vào tối 27.10 khi chương trình diễn ra tại Nghệ An, dù ông nọ bà kia về dự cũng đừng có màn giới thiệu quan khách kiểu cách, long trọng, xướng tên từng người rồi vỗ tay bồm bộp, đừng cười cười nói nói hân hoan, đau lòng cả người còn sống lẫn người đã khuất lắm. Vui gì mà vui trước sự hy sinh mất mát quá lớn, quá tang thương. Lại nhớ những lần hằng năm kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ 27.7, nhìn mặt mấy vị quan chức cười nói hơn hớn, vỗ tay rầm trời mà thấy xấu hổ, sượng sùng.

Có một thời gian dài, suốt bao nhiêu năm chẳng ai nhớ đến Truông Bồn, đến 13 liệt sĩ TNXP (12 nữ) ngã xuống nơi đây. Thật buồn, đau xót. Tôi viết những dòng này vừa để tỏ lòng biết ơn báo Tiền Phong, vừa muốn nhắc thêm rằng, chỉ cách tượng đài (người ta đặt tên là "Truông Bồn chiến thắng") vài trăm mét còn có mộ anh hùng liệt sĩ Hoàng Kim Giao (và đồng đội), người còn sống có thắp nhang cho anh chị TNXP xin ghé thắp cho hai anh vài nén để khỏi cảnh ngậm ngùi hoang lạnh.

Không ai được quyền lãng quên quá khứ, dù là quá khứ đau thương, nhưng đặt tên cho đúng sự kiện lịch sử là cách tôn trọng lịch sử và những người đã khuất nhất.

25.10.2012
Nguyễn Thông

Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

Chuyện tào lao: RĂNG MI NGU RỨA?

(Blog Fa – Xu - Ca)
Hồi đó cơ quan tôi có vị bác sỹ bệnh xá trưởng rất chi là độc đáo. Bệnh gì ông cũng chữa. Phòng tôi có hai bệnh nhân được ông rất ưu ái là anh Ngô Trí Sinh và Giản Viết Ất.
Anh Ngô Trí Sinh đau răng không ăn uống gì được. Xuống bệnh xá ông Thỷ khám xong, phán: “Viêm lợi. Nội trú. Kháng sinh”. Sau một tuần nằm nội trú, tiêm kháng sinh liều cao, Ngô Trí Sinh vốn gầy càng trở nên tong teo, thật tội nghiệp. Một hôm đau quá, anh trốn bệnh xá, lên Viện Quân y 4 nhờ bạn là bác sỹ nha khoa khám lại. “Trời đất ạ, ông sâu răng thế này mà thằng nào lại bảo ông viêm lợi?”. Sinh về nói lại với ông Thỷ chuyện bạn anh khám nói anh đau răng chứ không phải viêm lợi. Ông Thỷ thản nhiên: “ Răng mi ngu rứa? Đau răng, răng không nói hắn nhổ cho luôn?”. Sinh mới mở tờ lịch gói cái răng sâu ra, đưa cho ông Thỷ xem: “Dạ, nó nhổ đây rồi ạ”. Ông Thỷ ngắm nghía cái răng sâu một lúc, phán: “Chà, sâu ra ri không trách chi viêm cả lợi!”.
Giản Viết Ất lại là một ca khác, đau lưng. Ông Thỷ nắn nắn một hồi, phán: “Đau thần kinh hông. Nội trú. Thủy châm!”. Thế là châm cứu. Đến mức cứ nhìn thấy cái kim là cu Ất xanh mặt. Chín mười ngày không thuyên chuyển gì, cu Ất mới thỏ thẻ với ông Thỷ: “Có lẽ anh cho em đi chụp X quang xem sao”. “Ừ thì đi đi!”. Cu Ất đi chụp X quang mới biết hắn bị gai cột sống, mà là gai đôi. Ông Thỷ đeo kính lên soi đi soi lại cái phim cu Ất mang về. Đoạn gỡ kính nhìn cu Ất: “Đúng là gai đôi thật rồi. Răng mà mi ngu rứa?”  “Răng anh lại nói em ngu?”. “Răng mi không nói sớm từ đầu, để tau cho đi chụp X quang sớm, khỏi phải châm?”

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013

VỀ HAI “CÁI ẤY” VÀ “CHUYỆN ẤY” TRONG CA DAO, TỤC NGỮ

                      Mạc Thực  Thái Doãn Chất
         Faxuca: Mạc Thực Thái Doãn Chất là giáo viên văn, hưu trí ở huyện Diễn Châu, Nghệ An.  Ông là hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, hội viên Hội VHNT Nghệ An. Ông viết nhiều thể loại và khá nổi tiếng với dòng thơ châm biếm. Tuy nhiên, ông cũng là người nghiên cứu về văn hóa dân gian, với cái nhìn rất tươi tắn, sâu sắc về nhiều vấn đề tưởng rất đời thường. Ông có gửi đến Chuyên san Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An (Thuộc Sở KH&CN Nghệ An) bài viết này. Xét thấy nếu đăng ở Chuyên san KHXH&NVNA e chưa thật thích hợp, chúng tôi đã đề nghị ông cho đăng lên blog Tạp hóa Faxuca. Được ông đồng tình, Tạp hóa Faxuca xin giới thiệu bài viết rất đặc sắc, nhưng cũng đầy “tế nhị” này với bạn đọc. 
 
      Không phải ngẫu nhiên mà từ ngàn xưa hai “cái ấy” và “chuyện ấy” đã hiện hữu trong văn chương bác học và văn chương bình dân, trong đó có ca dao, tục ngữ. Đó là đề tài muôn thưở, là thứ “vàng ròng” (Chữ dùng của nhà thơ Trần Hữu Thung), làm cho con người vui vẻ, khỏe khoắn, ham sống, ham chiến đấu và trẻ trung hơn. Nếu không có nó thì “ mặt trời sẽ tắt”! Và cuộc đời của mỗi con người sẽ giảm phần hứng thú, ý vị.
     Trước hết nói về hai cái ấy. Thông thường thì “của ai nấy dùng”, thường đi riêng, nhưng cũng có khi C..và L..đi sóng đôi nhau như bóng với hình.
     Nó hay vì nhiều lẽ. Bắt đầu từ hai cái tên. Bắt đầu, ta  nói về C. C..là cái tên nôm, tên “cúng cơm” ngàn đời của nó. “Trâu thì lấy mũi mà dắc (dắt)/ Người thì lấy C mà lôi”. Và, “C. gãy mà bạy L troi”. Hay: “Hát ghẹo mà đẽo cổ cò/ C. anh mà gãy ba o phải đền”. Rồi đến tên phái sinh, tên tượng hình, tên ẩn dụ, tên lóng…Đó là  B.: “Nên không bay nói một lời/ Không thì choa sẽ dí b. choa đi”. Là thằng cu “Em như khế ngọt sân chùa/ Cho choa, choa không lấy,/ Bán choa, choa không mua/Nhưng vì thằng cu nhà choa hắn dại dại nên thấy của chua hắn thèm”. Là chim: “Người thì bé bằng cái kim/ Chim thì to bằng cái chày”. Là củ khoai từ: “Anh đây có củ khoai từ/ Em có cái rãnh cho anh dư lấy nòi”. Là cái gộc chè chuôm: “Ả có cái ao trưởng tộc / anh có cái gộc chè chuôm”. Là con cá tràu , khi con gái hỏi: “Tương phùng bạn với tương tri / Cá nằm dưới cỏ, cá chi rứa chàng?”. Thi bên con trai đáp: “Tương phùng bạn với tương tri/ Cá nằm dưới cỏ có khi cá tràu”. Là cái cần tăng dân số: “Anh có cái cần tăng dân số/ Ả có cái hố tăng cá nhân/ Hai bên phấn đấu chuyên cần/ Thì dân số nước sẽ tăng ào ào”. Là cái cuống đuôi: “Tình cờ gặp buổi chợ Sò / Ả khoe con mực tuộc, anh thò cái cuống đuôi”. Là cái cán dao: “ Anh H có cái cán dao/ Em mô (nào) ưng ý bỏ vào vừa ngay”. Là khúc trầm hương. Một cô gái ở thôn Hoàng Lao đến thăm chị gái lấy chồng về thôn Cự Phú, thấy một chàng trai đang cồng lưng đan rổ, bèn hát: “ Đất Hoàng Lao chữ lao là nhọc/ Đất Cự phú, chữ phú là giàu/ Em đến đây cũng muốn chị trước, em sau / Nhưng mùi trầm hương em nỏ chộ, mà chi chộ màu khói mây”’. Đã được một chàng trai Cự Phú đáp lại: “Giàu là giàu nơi hương hào dịch mục /Nhọc là nhọc nơi tú cử, trâm bào/ Khúc trầm hương anh còn để trong bao/ Em có đưa cái lò hương đi đó, để anh bỏ vào cho nó thơm”. Là cái dé: “Người bé, dé to”. Là “Đồ lề”: “Người cặp cách, đồ lề tráng hạng”.vv…
Tượng nhà mồ Tây Nguyên
   Tỷ lệ của nó so với thân chủ thì có khi thuận, có khi nghịch. Thuận thì: “Người to của nậy”. Nhưng có khi ngược lại: “Anh kia người thì nhom nhom (gầy gò, yếu ớt) / Người chôn tiểu, C. chôn hòm mà kinh !”.
    C. có một số mặt nổi trội so với các cơ phận khác. Nó rất mẫn cảm đối với phía bên kia: “Ra đường  gặp ả hồng nhan / Thằng cu nghển cổ nóng ran cả người”. Nó là cái máy i on nhạy vô kể: “ Đút vô be thì nghe nóng nóng/ Đút vô móng thì nghe nôn nôn / Đút vô L. thì nghe đễ chịu”. Nó rất thích của lạ: “Cái gì không mắt, không tai/  Cổ đeo hai bị, tóc dài ngang lưng / Của nhà thấy cứ lừng khừng / Hễ thấy của lạ bừng bừng xông lên”. Hoặc: “Cái gì chỉ có một đầu / Có mồm không mắt, đeo râu xồm xoàm / Khỏe đứng thẳng, nhọc nằm  ngang/ Thất thường tính khí họ hàng không ưa/ Của lạ xài mấy cũng vừa / Của nhà thì cứ dây dưa khất lần”. Đọc qua, ai cũng biết đó là cái C..
  Kích thước, hình thù  của nó cũng mỗi người mỗi khác. Vì thế,  mới có chuyện: Ba chị đi chợ về đố nhau: “Của cánh đàn ông thế nào thì sướng?”. Chị thì nói ngắn, chị thì nói dài, chị thì nói cong. Chẳng  ai chịu ai. Cuối cùng cả ba kéo nhau đến gặp một ả có tiếng lẳng lơ, mới được “bật mí” như thế này: “Ngắn sướng ngoài, dài sướng trong / cong cong sướng chính giữa”. Vì nó sướng thế nên phiá bên kia đã “cương quyết chiến dấu” để “không cho chúng nó thoát”: “Nhịn ăn, nhịn mặc, không ai nhịn C.. cho ai”. Và C.. được đề cao trên cả sự giàu có: “Bền C. lọ,  hơn đỏ nhà lim !”
Minh họa bài thơ Thiếu nữ ngủ ngày của Hồ Xuân Hương
  Chuyển sang cái L. L. là tên cúng cơm ra đời trước nhất. Nhiều câu ca dao nói tới “của quí” này. “Nửa đêm thức dậy đâm xay / Khải (gãi) L. xoạc xoạc lông bay đầy nhà”. “Chiều chiều xách mủng xuống đồn/ Cậu cho bát gạo, banh L. cậu coi”. “Mẹ em cứ bảo không L./ Cái chi dưới háng như cồn cỏ may”. “Hai bà đi hái lộc mưng / Trèo lên rớt xuống đau lưng đấm L.”.vv. Tiếp đến là bướm: “ Bướm đồng động đến thì bay / Bướm nhà động đến lăn quay ra giường”. Là cái khuôn đúc tượng. Một chàng trai thấy một cô gái đẹp liền hát: “Hỡi người đi đó xinh thay / Có khuôn đúc tượng, cho anh đây đúc cùng”. Cô gái đã trả lời rất tình tứ: “Người sao ăn nói lạ lùng / Khuôn ai nấy đúc, đúc cùng ai cho!”. Là cái ngã ba: “To đàng cấy, nậy ngã ba”. Là con mực tuộc (xem C). Là cái ao trưởng tộc (xem C).  Là cái lộ lù trong phát ngôn sau: Một cô gái dùng lối nói lái để hỏi cánh thợ đắp tượng: “Anh đi đắp phượng, đắp cù / Đố anh đắp được bốn cái lộ lù nhà em”. Liền bị một chàng trai “đập” lại: “Bốn cái lộ lù kính chú em ba / Đắp công, đắp phượng mới là tay anh”. Là:“Cây luồng mà bỏ u rê”.Bây giờ có người gọi nó là“đám ruộng ba bờ” v v
   Màu da của nó cũng thay đổi. Thông thường thì màu trắng: “Cái L. trắng bảnh, trắng banh /L. ăn C. sống có tanh không L.?”. Có khi là màu đen do môi trường lao động vất vả, nặng nhọc: “Lộ cộ có lộ tiền chôn / Cái răng mốc thếch cái L. đen thui”. Hoặc do sự cọ xát của “thớt trên”. Có một cô gái ngây thơ hỏi chị dâu khi cả hai “chị em rủ nhau tắm đầm/ Của em sao trắng, chị thâm thế này?”. Đã được cô chị dâu cho biết nguyên nhân: “Nó thâm  bởi tại  anh mày / Xưa kia chị cũng hạt chay đỏ lòm”
   Sự cân đối so với các cơ phận khác cũng mỗi người mỗi vẻ. Thông thường thì tỷ lệ thuận: “To đường cấy, nậy ngả ba”. Hoặc: “Em là con gái Phú Đa/ Con người phốp pháp, ngã ba to đùng”. Nhưng cũng có khi ngược lại: “Em là con gái chợ Cồn/ Người thì bé bé cái L. lại to !”. Rồi diện mạo của nó thế nào? Một chàng trai hỏỉ: “Cô kia, cô kỉa, cô kìa/ Người cô thế ấy, cái kia thế nào?”. Đã được phía bên kia trả lời thật tuyệt vời: “Nó xinh, nó xỉnh, nó xình/ Nó cũng như mình, nó đã có ria!.” Nó giống  mồm anh. Đau hơn hoạn !
      Nó cũng có độ sâu chết người. Bởi thế có khách qua sông đã hỏi cô lái đò: “Sông này sâu cạn thế nào /Lại đây anh thả một cơn sào hỡi em”. Đã bị đối phương giáng trả: “Sông này chỗ cạn chỗ sâu/ Sa chân thì ngập cả đầu đó anh!”. Lại có chuyện: Ba anh chàng đi học về, thấy một chị nông dân đang cấy dưới ruộng, xúc cảnh sinh tình, liền đố nhau:“Của chị ấy thế nào?”. Anh nói tròn, anh nói méo, anh nói vuông. Chẳng ai chịu ai, bèn kéo nhau vào huyện đường nhờ quan phân xử. Quan phán: “ Mai gọi thị ấy xuống đây, rồi ta phân xử cho”. Về nhà, ba anh biện ba món quà để “ hối lời” chị ta. Sáng hôm sau kéo nhau vào huyện  đường. Lập nghiêm, quan hỏi: “Thị kia ! Của mày thế nào mà để ba thầy đây đi học về đố nhau: Thầy nói tròn, thầy nói méo, thầy nói vuông?”. Được quan cho phép, chị nông dân lễ phép thưa :“Bẩm quan, cả ba thầy đều đúng ạ!” Quan ngạc nhiên. Chị ta nói tiếp: “Khi con đi, thì của con méo/ khi chồng con đến đéo, thì của con tròn/ Những khi ngồi đòn, thì của con vuông!” Có người còn vẽ hình hài nó như thế này: “Đi nhai, đứng ngậm, ngồi cười/ Vô phúc mạt đời, mọc cái răng nanh !”.
    L. có sức mạnh hơn cả ma quỷ: “ Ma hớp hồn, không bằng L. rút ruột”. Vì nó mà có kẻ mất hết cả trí tuệ: “Khoe anh lắm khéo, lắm khôn/ Qua cửa nhà L. bảy vía, còn ba !” Đến những bậc văn nhân,tài tử mà dính lấy nó thì cũng trở nên đần độn: “Văn chương chữ nghĩa bề  bề/ Thần L. ám ảnh thì mê mẩn đời !”. Nó làm cho các víp, các sếp đến mê mệt mất cả tỉnh táo: “ Cây luồng mà bỏ u rê/ các vip, các sếp đều mê cây luồng”. Kì diệu hơn,  nó có thể tái sinh sự sống. Bởi thế mới có chuyện: một ả đi cày thách đố một chàng trai: “Đưa chàng một nắm ngô rang/ Chàng đúc vô cho nó mọc, thiếp theo chàng về ngay”. Anh ta đã trả lời thật hóm hỉnh: “Nơi nào mà nắng  không khô/ Mà mưa không ướt đúc vô, mọc liền !”. Có khi nó trở thành “tiêu chuẩn”để đo sự trưởng thành của một đấng tu mi nam tử: “Làm trai cho đáng nên trai/ Mồm thơm mùi rượu, tay khai mùi L.”. Đến các bậc quân tử cũng có khi “gương mẫu” như thế này: “Tưởng là quân tử nhất ngôn/ Ai ngờ quân tử rờ L. hai tay”. Bởi thế, mới có kẻ tuyên bố: “Quân tử nhất ngôn là quân tử dại/ Quân tử nói lại, là quân tử khôn/ Quân tử rờ L. là quân tử giỏi !”. Thật là hết chỗ nói ! Lắm anh chàng nổi tiếng khôn cũng bởi do biết :“Làm trai như thế mới khôn/ Ăn cơm dùng đũa, rờ L. dùng tay”. Rồi khi thiếu vắng nó, thì cả bọn  “dùng sức mạnh tập thể” cất công đi tìm: “L. lông bay bổng lên trời/ Một bầy C. lọ mang tơi đi tìm”.
Giờ nói đến chuyện ấy. Đó là chuyện “ giao lưu” của một cặp tình nhân muôn đời. Có nhiều cách để gọi sự giao lưu ấy. Thông thuờng thì gọi là đ. Khi thì gọi là “mần”, là  “ấy”: “Thấy ai ai, ta cũng ai ai/ Ai ai ấy thì ta cũng ấy” (Trần Lê Vĩ)…Nhưng phổ biến nhất vẫn  là đ. Từ xa xưa, tạo hóa đã bắt C. và L. phải làm bạn với nhau. Ai không có bạn “ thân mến” ấy là bất hạnh, là vô phúc ! Bởi thế một cô gái mới đem “của mình” ra để đố bạn trai: “ L. vàng, bẹn ngọc, đóc sơn son/ Trai nam nhi đối được, thiếp theo non về dừ”. Bạn trai của cô ta đã đối lại khá chuẩn: “Lông mun, dái trắc, C. xà cừ/ Anh đây đối được, em cho dừ hay mai ?”. Rõ ràng là cái chắc đã ngoắc lấy cái đẹp. Và cái đẹp đã kẹp lấy cái chắc! Ca dao phồn thực còn cho ta biết: “Con gái 17/ vú cảy L. sưng/ Hai mắt trập trừng/ Hình như muốn đ..” Vì thế đến tuổi dậy thì,  mới có chuyện con trai trách con gái: “Tổ cha ba đứa có L./ Không cho choa đ. để  L. mần chi?”. Liền được phía con gái trả lời: “Bay hỏi thì choa xin thưa / L. choa đang nhỏ, chưa vừa C. bay”. Có khi lấy ngoại cảnh để nói chuyện ấy: “Con cò ăn bên tê hói/ Con cói ăn bên ni sông/ O kia ơi, có phải đạo vợ chồng/ Sang bên ni ta kè coọc”. Nó còn cho biết chuyện ấy sẽ xẩy ra khi nào: “No thì L. .L., C. C./ Đói thì hục hặc chuyện ăn”. Con người khác với loài vật ở chỗ nào: “ Chó mùa thu, tru (trâu) mùa hè/ Người thì nhè bát tiết”. Nghĩa là quanh năm .
Linh tinh tình phộc
Trong ca dao chuyện ấy ít nói bóng, nói gió. Đa phần là nói thẳng. Cho nên có anh chàng nào đó đã đề nghị: “L. em tủm hủm mu rùa/ Cho anh đ. cái, đến mùa lấy khoai”. Thì bên kia nói ngay: “Khoai khoai cha tổ là khoai / Cho anh đ.. cấy đến mai lấy tiền/ Tiền tiền cha tổ là tiền/Cho anh đ.. cấy L.. liền lộ khu! ”. Có khi là chuyện “động trời” làm cho cả làng phát khiếp.: “Trai đại hạn, gái loạn canh/ Đ. chắc một bữa khiếp xanh cả làng !”.Có khi phái yếu ở trong tư thế  sẵn  sàng “chiến đấu”: “Nửa đêm nghe chuột khoét dần/ Tưởng chồng đến đ. trương gân  banh L. !”. Có người còn so sánh, đề ra ‘tiêu chí” thế nào là cha thương con, vợ thương chồng: “Cha thương con làm nhà tứ trụ/ Vợ thương chồng cho đ. suốt đêm”. Có chỗ còn nói tới tác hại của nó khi vượt ngưỡng: “Hay ăn thì béo, hay đéo thì gầy”. Trong khi văn chương bác học nêu lên cách tẩm bổ và hành lạc như thế này: “ Bán dạ tam bôi tửu/ Bình minh nhất trản trà/ Tam nguyệt giao nhất độ/ Lương y bất đáo gia”. Nghĩa là: “Nửa đêm ba chén rượu/ Sáng mai một chén trà/ Ba tháng  “ấy” một cái/ Thầy thuốc đếch tới nhà”. Thì tục ngữ  dân gian  nói: “Đêm bảy ngày ba, vô ra không kê”. Để giữ được nhịp độ đó, người xưa bày cho: “Thương chồng nấu cháo cu cu/ Chồng ăn chồng đ. như tru (trâu) phá ràn”. “Thương chồng thì nấu cháo lươn/ Chồng ăn chồng đ. cho trườn ra sân”. “Thương chồng thì nấu cháo gà/ Chồng ăn chồng đ. gấp ba ngày thường”. “Thương chồng thì nấu cháo gà/ chồng ăn, chồng đ. cửa nhà rung rinh”. Thật là khủng khiếp! Lại  còn bày cho cách tiến hành  thế nào để đạt đến cực điểm của sự khoái lạc: “Kéo gỗ thì cốt bỏ đà/ Đ. chắc thì cốt đàn bà nắt lên”. Ca dao còn cho biết trong chuyện ấy, thành phần nào, lứa tuổi nào là khỏe nhất: “Lính về, lính đ. ba ngày/ Bằng anh dân cày đ. trong ba tháng”. Hoặc: “Ba năm du kích cận kề/ Không bằng lính chiến hắn về một đêm”. Đúng  là: “Ăn thì đi rú, đ. thì đi lính”, hoặc “lính về thì đ., rú về thì ăn”. Rồi hình dung bề ngoài như thế nào, thì khỏe khoản ấy. Nào là: “Tóc loăn quăn, bạo ăn, bạo đ./ Tóc lụ xụ bạo đ., bạo ăn”. Nào là: “Người gầy thầy đ.”. Hoặc : “Trai tơ mà đ. gái tơ/ Hắn sướng trong bụng hơn mơ được vàng”. Còn lớp người “trên bảo dưới không nghe” thì: “Ông già mà đ. bà già/ Cũng bằng bốc trấu mà xoa giữa L.”. Và đây là cách chơi của kẻ tra (người già): “Đứt ú thì quàng lấy sừng/ Già thì dụt dặt, xin đừng bán đi”. Hoặc: “Trẻ đâm xay, già dụt dặt”. Hoặc coi đây là một phép dưỡng sinh cực kỳ quí giá: “Trẻ thì lấy con, lấy cái/ Già thì thông đái, ngon cơm”. Nhưng cũng có khi: “Càng già càng dẻo, càng dai”, như cái chuyện đã xẩy ra ở  một xã, tại huyện nọ: “Q.L lại có chuyện cười/ Dưỡng sinh, sinh dưỡng mới lòi đuôi ra/ Cụ ông mà đ. cụ bà/ Người già L., C. chưa già, vơ bay !”. Nhiều khi nó có giá trị như một liều thuốc “cải lão hoàn đồng”: “Cụ già tuổi dã tám mươi/ Nghe nói chuyện đ. trong người nóng ran”. Hay: “Lâu ngày đ. cái khỏe ra/ Mặt mày trẻ lại, cái già mất tiêu”. Bởi thế nhịn “khoản ấy” là con người trở nên tiều tụy, phờ phạc: “Nhịn ăn mười bữa chưa gầy/ Nhịn đ. một bữa mặt mày xanh xao”. Nhiều kẻ giàu có, vì chuyện ấy mà khuynh gia bại sản: “Anh kia tan cửa nát nhà/ Vì một cái đ. nên ra thế này”. Hoặc: “Tan cửa nát nhà, cũng vì ba cái  đ.!”.
   Người ta có nhiều cái khổ. Một trong những cái khổ ấy là vợ mất sớm. Vợ mất sớm là một trong ba “nhân sinh tam khổ”: “Tuổi trẻ mất cha/ về già mất con/ Trung niên mất vợ/ Héo hon vô cùng”. Vì thế vợ chết, hoặc vợ đi đâu lâu ngày, lắm người đã khổ và bức xúc như thế này: “Vợ chết mới được ba ngày/ Cái C. đã ngỏng như chày đâm vưng (vừng)”. Hoặc : “Vợ chết mặt còn rầu rầu/ Cái C. đã nóng như đầu hỏa xa”. Hay: “ L. đi giữ cháu ba ngày/ Ở nhà C. nhớ  C. gầy trơ gân !”.
    Còn phía  bên kia thì sao? Cũng khổ không kém ! “Chồng chết sang ngày thứ tư/ Cục đú hắn dựng y như hòn lèn”. Hoặc: “Đàn bà chồng chết ba năm/ Được một cái đ. sướng rân tháng tròn”. Hoặc:“Chồng chết thì chưa đoạn tang/ Cái L. ngáp ngáp như mang cá mè”. Cho nên có trường hợp đã phải tìm cách “phá bỏ gông xiềng nô lệ !”. Nếu xa vợ lâu ngày quá thì: “Vợ rồi thì mặc vợ rồi/ Lâu ngày đại hạn, sang ngồi với em”. Nếu xa chồng lâu ngày quá thì: “Có chồng thì mặc có chồng/ Lâu ngày vắng vẻ, “tơ hồng” cứ xe”. Thậm chí có chị vừa ru con, vừa thông báo hoàn cảnh của mình cho láng giềng biết: “Bố cháu lâu nay không nhà/ Muốn xuân một tý la cà sang đây !”.
    Còn trường hợp sau đây thì không biết  là  “khổ” hay là “sướng”, phản đối hay không phản đối: “Hôm qua em đi hái chè/Gặp thằng phải gió hắn đè em ra/ Em  xin mà hắn không tha/ Hắn đè, hắn nhét cái xương cha hắn vào /Đêm về lòng những khát khao/Ngày mai em lại đồi cao hái chè !”. Hoặc “ trực trần kỳ sự” như cái ông chết vợ này: “Ai có L. thì giữ/ C. bọ hoe Lự đi kiếm ăn !”.
      Tóm lại, hai cái ấy và chuyện ấy sớm được đề cập trong ca dao, tục ngữ. Nó trở thành của “gia bảo”, “liều thuốc vạn năng” để người lao động có thêm sức lực vượt qua những “chướng ngại vật” trên đường đời. Bởi thế, mất gì thì mất, nhưng những câu ca dao , tục ngữ nói về hai cái ấy và chuyện ấy,thì dù không được bày, dạy vẫn  “thừa sức” lướt qua phong ba bão táp của thời gian; chỉ cần một lần thoảng qua cái lỗ tai là găm lại trong trí nhớ. Nó trở thành “tiềm lực” trong con người, đặc biệt là những người lao động chân tay. Ca dao xưa có câu: “Chàng làng chèo chẹt nỏ mần (chẳng làm) chi ai/ Chim cu ngẩm ngẩm, ăn hết đậu, hết khoai nhà người”. Một số người, nhìn bề ngoài có vẻ “đạo mạo, nghiêm túc”, nhưng bên trong lại là những tay “thợ giác, thợ khoan” “nổi tiếng”! Vì thế,  người xưa đã lớn tiếng tố cáo,vạch mặt: “Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình/ Ba bộ đồng tình bóp vú con tôi”. Hoặc: “Ban ngày quan lớn như thần/ Ban đêm quan lớn tần mần như ma” đó sao? Còn ngày nay nếu chịu khó sưu tầm cũng không phải là “của hiếm”.
Trong ca dao, tục ngữ, cũ và mới, nếu “săn lùng” cho hết thì còn phờ râu trê! Người viết “chân ngắn quá, không đi cùng trái đất”, có chỗ nào chưa đủ, mong bạn đọc bổ sung cho phong phú thêm. Có chỗ nào “vui quá hóa…dại”, lỡ lời, lỡ bút, mong bạn đọc xa gần lượng thứ.  Xin thành thật cảm ơn !

Chuyện tào lao: ĐỒ QUẸT KHU!


(Blog Fa – Xu - Ca)
Theo nghiên cứu của mình, thì đông tây kim cổ trên đời này chỉ có ba người không bao giờ mắc sai lầm. Đó là: một, Giáo Hoàng, là người được hưởng ơn vô ngộ của Thiên Chúa; hai, Mao Chủ tịch được hiến định theo hiến pháp của nước Tàu và điều lệ củaTrung cộng là sáng suốt tuyệt đối; người thứ ba là vợ mình, quyền không bao giờ mắc sai lầm của nàng được mặc định một cách tự nhiên, cấm cãi!
Khi Giáo hoàng và Mao Chủ tịch không bao giờ sai lầm thì mình không biết thế nào, chứ khi vợ mình không bao giờ sai lầm, thì người luôn luôn sai lầm, đương, tất, cố, dĩ, ngẫu, tự nhiên là mình. Cách đây hơn hai mươi lăm năm, khi đang ở tập thể ở cơ quan ngân hàng Vinh, một hôm vợ mình buộc cái rổ làm ổ cho gà đẻ trên chuồng lợn không chặt. Con gà mái mẹ nhảy lên đẻ xong lúc nó nhảy xuống thì cái rổ cũng rơi xuống, mấy quả trứng trong ổ rơi, bể tung tóe. Mà, các bạn biết đấy hồi đó mấy quả trứng là kinh lắm. Tuy nhiên, thật bụng mà nói mình có chút hả hê, đấy nhé, lần này thì không phải là ta nhé, mình làm thì mình chịu đi nhé. Đang hả hê như thế thì bỗng dưng nàng sấn sổ đến trước mặt mình: “Tại anh cả đấy!”. “Ô hay, em nói chi lạ rứa? Chính em buộc cái rổ đấy chứ!”. “Rứa anh ở nhà mần chi cả buổi mà không buộc, để cho người ta vừa đi làm, vừa nấu nướng, lại cho con bú, rồi còn làm ổ cho gà đẻ?”. Giàng ơi! Mình cãi mần răng được nữa? Cho nên từ đấy hễ vợ làm vỡ bát ư, là tại mình không rửa bát; vợ để cá kho cháy ư, là tại khi đó mình kể chuyện tiếu lâm làm nàng không tập trung; vợ dậy muộn ư, là tại mình không thức..vv..và vv...
Túm lại là mình nỏ được cái tích sự chi, toàn khuyết điểm và thiếu sót. Mọi nơi, mọi lúc nàng luôn tìm ra khuyết điểm của mình. Nếu không cải thiện tình hình thì gay lắm, nghĩ vậy nhưng nghiên cứu mãi mà mình cũng chưa nghĩ ra phương cách gì.
May quá, một hôm xem ty vi thấy có chương trình gì đó về gia đình của tiến sỹ Phan Quốc Việt (Chủ tịch Tập đoàn Tâm Việt, chuyên về đào tạo kỹ năng mềm) rất hay. Tiếc là hôm đó vợ không xem, mình nhớ lịch phát lại, hôm sau bố trí cho cả nhà cùng xem. Trong chương trình, TS Việt làm một trắc nghiệm rất thú vị. Ông lấy một tờ giấy trắng, sau đó vẽ một dấu chấm đen lên trên, rồi đưa cho tất cả mọi người xem, hỏi: “Đây là cái gì?”. Tất cả các bà, các chị gần hai chục người đều nói đó là dấu chấm đen. TS Việt lắc đầu: “Đây không phải là dấu chấm đen, mà là tờ giấy trắng có dấu chấm đen”. 

Đây là cái gì?
Mọi người cười ồ, tán thưởng. Khi đó vị TS có râu này mới liên hệ đến chuyện gia đình, nói nhiều người vợ nhìn chồng mình chỉ thấy khuyết điểm là cái dấu chấm đen, mà không thấy ưu điểm mênh mông như tờ giấy trắng. Đấy, em thấy chưa? Sáng ra chưa? Sao em không thấy ưu điểm vĩ đại của anh là lau cả cái nhà mênh mông, mà chỉ thấy đôi chỗ anh lau chưa sạch? Sao em chỉ xoi mói anh lau mặt bàn chưa đảm bảo tiêu chuẩn 3 hại bụi /1 cm2 vuông, trong khi sạch như Sin ga po họ cũng chỉ đặt tiêu chuẩn 7 hạt bụi/1 cm2? Thấm thía quá! Hai đứa con mình vỗ tay tán thưởng bố, quay sang phê phán mẹ, y như hồi dân Tàu “phê Lâm, phê Khổng”. Vợ mình chỉ cười không nói gì. Mình yên chí, thế là ổn! Và để phòng thân mình cũng lấy một tấm bìa trắng, vẽ một dấu chấm đen, để sẵn trên tủ ly, coi như bảo bối. TS Phan quốc Việt muôn năm! 
Mấy hôm sau, vợ chồng mình dọn nhà, mình lau bàn, lớ khướ thế nào đổ cái cốc, nước lênh láng ra sàn nhà. Vợ mình nghiêm mặt lại. Mình chạy vội lại tủ, lấy ra tấm bìa trắng có chấm đen đã chuẩn bị sẵn, đưa ra trước mặt nàng và hỏi: “Đây là cái gì?”. Nàng không thèm nhìn mà quát: “Đồ quẹt khu! Đi mà lau nhà đi!”

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

Đối thoại bằng thơ giữa cô và trò gây sốt

- Ngay sau khi lá đơn xin nghỉ học bằng thơ “có một không hai” của học sinh được truyền, một đoạn thơ lục bát khác như lời đối đáp của “thầy cô” cũng đã được tung lên mạng với giọng điệu khá hài hước.
Lá đơn xin nghỉ học gây sốt trên mạng.

Lá thư xin nghỉ học của cậu học trò viết: “Gửi ban giám hiệu trường ta.
Cùng cô chủ nhiệm chính là cô Nhung.
Hôm nay em viết đơn này
Kính xin được nghỉ một ngày dưỡng thương
Em tuy vẫn nhớ lớp, trường
Nhưng mà sức khỏe khó lường mối nguy
Suốt đêm em sốt li bì
Trán nay nóng hổi, yếu suy quá chừng
Việc học chắc phải tạm ngừng
Để còn điều trị kẻo chừng… thăng thiên!
Bài ghi em sẽ chép liền
Em xin lỗi đã làm phiền thầy cô!

Theo thông tin nhiều bạn đọc cung cấp, đơn xin nghỉ học “độc nhất vô nhị” xôn xao cư dân mạng trong thời gian vừa qua do cậu học trò Phạm Quốc Đạt, lớp 11 Toán 1 trường THPT L.Q.Đ (TP. Vũng Tàu) sáng tác.
Ngay sau khi lá đơn xin nghỉ học bằng thơ “có một không hai” của học sinh được truyền trên mạng, một đoạn thơ lục bát khác như lời đối đáp của “thầy cô” cũng đã được tung lên mạng với giọng điệu khá hài hước.
“Thầy cô trả lời”
Thầy cô nhận được đơn rồi.
Sốt cao cứ nghỉ chứ đừng ngại chi
Bài vở sau khỏe hãy ghi
Em lo điều trị kéo thì Thăng Thiên
Thầy cô không sợ làm phiền
Chỉ sợ em ngủ , mơ tiên dẫn đường
Biết rằng nhớ lớp nhớ trường
Hãy vì sức khỏe mà thương lấy mình...!!!
Khi nào sức khỏe an bình.
Cố gắng đến lớp chúng mình gặp nhau.
Về trường có trước có sau.
Đừng vì cái vụ em đau ...hết tiền.
Cô kêu lên bảng liền liền
Bài tập cô vặn cho điên cái đầu.
Hỏi : sao vở lại nát nhàu.
Bài ghi không đủ mặc dầu có ghi.
Cô không gợi ý đề thi
Cuối năm điểm kém tức thì lưu ban?

Một “cô giáo” khác cũng có lời hồi đáp với học trò của mình:
"Thương em bị sốt li bì
Đồng ý em nghỉ tiếc gì em đâu
Lo cho sức khỏe là đầu
Thầy cô các bạn luôn cầu cho em
Khỏe rồi đi học cố lên
Học sinh ngoan giỏi có tên của trò”.

Khá nhiều bạn cho rằng đây là “sự sáng tạo phá vỡ sự khô khan vốn có của lá đơn xin nghỉ học bình thường”.
Theo chia sẻ của Ths Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu tuy thơ của bạn học sinh không chỉn chu như kiểu mà thầy cô mong muốn nhưng "đáng được chấp nhận vì sự phá cách, sáng tạo mà không phải học sinh nào cũng có”.
  • Phong Đăng

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Tại sao Trung Quốc đánh chiếm các đảo của Việt Nam vào tháng 3.1988?

Đảo Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc đánh chiếm vào ngày 14.3.1988 - Ảnh: D.Đ.Minh

(TNO) Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.


Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14.3.1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đã bắn chìm và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.
Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc còn ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.
Điều phải lưu ý là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.

Tàu HQ505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14.3.1988 - Ảnh: tư liệu
Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14.3.1988, có những điều cần phải nói rõ như sau:
Đầu tiên, ngay sau ngày 14.3.1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của mình, Trung Quốc đã ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa thì bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. Vì thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!
Sau đó thông qua người phát ngôn của Tổng thư ký, LHQ đã nói rõ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!
Rõ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đã “lấy thúng úp voi”, đã “lấy thịt đè người” lại còn muốn lấy tay che mặt trời!
Đã không có tàu khảo sát khoa học của LHQ thì chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.
Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng nghìn km2 nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rõ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!

Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh ngày 14.3.1988 tại Cam Ranh (Khánh Hòa) - Ảnh: tư liệu
Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3.1988?
Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Tình hình trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đình đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.
Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị - xã hội. Bắc Kinh cúi mình trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đã câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt vòng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.
Lợi dụng tình thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ý đồ lâu dài.
Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đã đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14.3.1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đã có dã tâm thì chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc - Ảnh: Chiến sĩ canh gác trên đảo Len Đao (quần đảo Trường Sa) - Ảnh: D.Đ.Minh
Câu chuyện xảy ra ngày 14.3.1988 tại Trường Sa đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:
Một là, lòng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác gì chuyện “gửi trứng cho ác”!
Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?
Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx - Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài.
Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!
Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!
Chúng ta đã có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14.3.1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.
Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ còn mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14.3.1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.
Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc.
Liêm Thạch

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Những loài cây hấp thu khí độc trong nhà

Thiết mộc lan và Ngũ gia bì là những loài cây đẹp và hấp thu được chất độc, vừa được các nhà khoa học Đại học Lâm nghiệp nghiên cứu chứng minh tác dụng và khuyên trồng trong nhà.

Thiết mộc lan có thể hấp thu khí toluene trong nhà. Ảnh: Kienthuc.
Thiết mộc lan có thể hấp thu khí toluene trong nhà. Ảnh: Kienthuc.
Theo tiến sĩ Phùng Văn Khoa, Phó Chủ nhiệm Khoa sau đại học, trường Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Chương Mỹ, Hà Nội, toluene là một dung môi hữu cơ dễ bay hơi, nó ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp. Trong nhà, khí toluene có thể phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau như sơn, khói thuốc lá, chất tẩy rửa hoặc có thể bị khuếch tán từ ngoài trời vào trong nhà.
Ghi nhận của các nhà khoa học cho thấy, trong nhà các hộ gia đình, hàm lượng trên chưa đến mức nguy hiểm. Tuy nhiên, tại những khu nhà mới hoặc gần các nhà máy sản xuất, gần đường giao thông thì hàm lượng khí toluene tương đối cao.
Toluene là một trong những chất gây ô nhiễm không khí trong nhà rất nguy hiểm. Nó có thể gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương, khiến người ở trong nhà có cảm giác buồn ngủ, đau đầu, mệt mỏi, chóng mặt. Khi ở nồng độ cao, khí toluene ảnh hưởng đến não bộ, gây bất tỉnh, thậm chí gây tử vong.
"Việc lựa chọn giải pháp phù hợp giảm thiểu các chất khí độc hại như toluene ở môi trường trong nhà là điều cần thiết và cấp bách. Một trong những giải pháp thân thiện nhất với môi trường đã được biết đến đó là dùng thực vật hấp thu chất ô nhiễm (Phytoremediation) đồng thời có tác dụng làm cảnh đẹp", tiến sĩ Khoa cho biết.

Ba loài cây nên trồng

Tiến sĩ Phùng Văn Khoa cùng thạc sĩ Bùi Văn Năng và thạc sĩ Nguyễn Thị Bích Hảo thực hiện nghiên cứu sử dụng cây xanh hấp thu khí độc. Các chuyên gia cho rằng, ba loài cây hấp thu khí toluene cao nhất trong 20 cây khảo sát là Thiết mộc lan, Ngũ gia bì và Dương xỉ thường.
Trong thử nghiệm 72 giờ tiếp xúc, Thiết mộc lan hấp thu 2,7µg/cm2 (đơn vị diện tích lá), Ngũ gia bì hấp thu 1,20µg/cm2, cây Cồ nốc hoa đầu hấp thu 1,00µg/cm2.
Theo nhóm khoa học, ba loài cây được lựa chọn nghiên cứu vì mang tính thẩm mỹ cao nên có thể trồng trong nhà như cây cảnh. Ngoài ra, khi tiếp xúc với khí toluene ở nồng độ từ 8,0 - 12,0mg/m3, các loài cây đó vẫn sinh trưởng bình thường và không có biểu hiện khác thường về hình thái.
Các chuyên gia khuyên, khi trồng cây nên có mật độ phù hợp để có tác dụng cao. Ví dụ, nhà khoảng 10 m2 nên trồng 2 - 3 cây, trong đó nên có một cây cao khoảng một mét và đường kính tán 0,5 m, còn một cây nhỏ hơn đặt gần nơi ngồi làm việc. Bởi các nghiên cứu đã chứng minh, khi để cây gần người sẽ giúp thư giãn và tăng hiệu suất làm việc. Trên bàn làm việc có cây xanh nhỏ không những giúp hấp thu khí ô nhiễm mà còn giúp phát huy tính sáng tạo, khả năng tập trung cao hơn.
Đến Tết, các gia đình sắm các đồ nội thất như bàn ghế, tủ, hay thảm mới... nên đặt thêm ba loài cây trên trong nhà để giúp cải thiện chất lượng không khí. Hằng tuần mọi người nên đưa cây ra ngoài trời trong khoảng một ngày để cây hấp thu ánh sáng giúp cây sinh trưởng tốt.
Theo Kiến thức