Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2010

Năm Quốc tế về Đa dạng sinh học





Bạn có biết rằng con người là một trong hàng triệu loài? Hay chính xác hơn, theo ước tính của các nhà khoa học con người là một trong số 15 triệu loài đang sinh sống trên hành tinh. Trong khi dân số đang gia tăng một cách nhanh chóng thì phần lớn những loài động vật và thực vật lại đang ngày càng suy giảm.
Tổng cộng có 17.291 loài được biết đến đang có nguy cơ tuyệt chủng – Từ những loài ít được biết đến như thực vật và côn trùng tới các loài chim cỡ lớn và động vật có vú. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là phần nổi của “tảng băng trôi”, thậm chí có nhiều loài còn biến mất trước khi được phát hiện.
Đâu là lý do? Chính là hoạt động của con người. Với cách tiếp cận hiện nay của chúng ta đối với vấn đề phát triển, con người đã gây ra sự mất mát của hàng loạt các khu rừng nguyên sinh, các vùng đất ngập nước quan trọng của thế giới, suy giảm ba phần tư số lượng các loài cá trong tự nhiên và thải ra lượng nhiệt quá đủ để “giữ ấm” cho hành tinh trong vài thế kỷ tới. Con người đã làm gia tăng tốc độ tuyệt chủng của các loài gấp 1.000 lần so với tỷ lệ tự nhiên.
Hậu quả là, chúng ta đang làm gia tăng mối nguy hiểm do việc đánh mất những nền tảng cơ sở của sự tồn tại. Sự đa dạng của cuộc sống trên hành tinh được gọi là “Đa dạng sinh học”, nó cung cấp cho chúng ta thức ăn, thuốc uống, quần áo, nhiên liệu và nhiều, nhiều thứ khác. Bạn không nghĩ rằng một con bọ cánh cứng ở sân hay những bãi cỏ bên lề đường lại có những mối liên hệ cơ bản gì với bạn – nhưng nó có. Khi một loài bị biến mất khỏi sự sống, có thể sẽ gây ra những hậu quả tồi tệ.
Vì lý do này, Liên hợp quốc đã tuyên bố năm 2010 là Năm Quốc tế về Đa dạng sinh học. Đây là cơ hội để nhấn mạnh tầm quan trọng của đa dạng sinh học đối với đời sống con người, phản ánh những thành tựu của chúng ta về bảo tồn đa dạng sinh học và nỗ lực để giảm tỷ lệ mất đa dạng sinh học.
Chủ đề của Ngày Môi trường thế giới năm 2010 là “Nhiều loài – Một hành tinh – Tương lai chúng ta”. Chủ đề này một lần nữa kêu gọi cộng đồng cùng chung tay bảo tồn sự đa dạng của cuộc sống trên hành tinh. Một hành tinh không có đa dạng sinh học sẽ là một viễn cảnh thật ảm đạm. Con người và sinh vật cùng chia sẻ một không gian sống trên một hành tinh, và chỉ có bảo tồn sinh vật chúng ta mới tạo ra được một tương lai bền vững và thịnh vượng.
Ngày Môi trường thế giới năm nay là cơ hội để chúng ta huy động sức mạnh các nhân và tập thể ngăn chặn nguy cơ tuyệt chủng của các loài sinh vật. Những nỗ lực của chúng ta đã cứu mốt số loài bên bờ tuyệt chủng và đã phục hồi một số sinh cảnh tự nhiên quan trọng của thế giới. Trong Ngày Môi trường thế giới, chúng ta hãy quyết tâm làm nhiều hơn nữa, nhanh hơn nữa để giành chiến thắng trong cuộc đua chống lại sự tuyệt chủng.
Nguồn: Tổng cục Môi trường Việt Nam
————————————————————–
Hưởng ứng ngày Môi trường thế giới 5/6/2010
(Bài tổng hợp của TS. Phạm Khắc Liệu - Trưởng khoa Môi trường - Trường ĐHKH Huế)
Những năm gần đây, Ngày Môi trường thế giới không chỉ còn là sự kiện của các cơ quan hữu trách, của những người làm việc trong lĩnh vực môi trường mà đã thực sự trở thành sự kiện thu hút mối quan tâm của đông đảo cộng đồng. Khi những vấn đề môi trường như biến đổi khí hậu, ô nhiễm nước và không khí, suy giảm đa dạng sinh học,…đã len lỏi vào tận các ngõ xóm, gia đình, đã chạm đến tận từng người dân, thì Ngày Môi trường thế giới dần trở thành “Ngày Môi trường của mọi người” là điều dễ hiểu.
Lịch sử ngày Môi trường Thế giới
Trước hàng loạt biểu hiện ô nhiễm, suy thoái môi trường trong những năm 1960 và nhận thức được đó là những hậu quả tác động của con người, lần đầu tiên Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã tổ chức Hội nghị với chủ đề “Môi trường con người” tại Stockholm (Thuỵ Điển). Hội nghị khai mạc ngày 5/6/1972. Ngay trong ngày khai mạc, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã được thành lập. Nhằm đánh dấu mốc thời gian quan trọng này, Liên Hợp Quốc đã chọn ngày 5/6 hàng năm làm ngày Môi trường thế giới. Liên Hợp Quốc muốn thông qua các hoạt động trong ngày này sẽ thu hút sự quan tâm của các chính phủ, các tổ chức và người dân trên khắp thế giới đối với công tác bảo vệ môi trường.
Theo thông lệ, mỗi năm Liên Hợp Quốc sẽ chọn một thành phố làm trung tâm tổ chức các hoạt động và đưa ra một chủ đề trọng tâm cho các hoạt động môi trường trong năm. Trong ngày này, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ có thông điệp gửi nhân dân toàn thế giới. Bắt đầu từ năm 1987, Liên Hợp Quốc đã phát động thêm Lễ trao giải thưởng môi trường “Global 500” nhằm tôn vinh các cá nhân, tổ chức có nhiều đóng góp cho hoạt động bảo vệ môi trường.
Bắt đầu từ năm 1982, Việt Nam đã hưởng ứng các hoạt động kỷ niệm ngày Môi trường thế giới, bằng cách chọn ra một địa phương làm nơi tổ chức các hoạt động trọng tâm cho cả nước, đồng thời phát động rộng rãi các chiến dịch, phong trào bảo vệ môi trường ở tất cả các tỉnh thành. Đặc biệt, lần đầu tiên ngày Môi trường thế giới 2001 đã được UNEP “phá lệ” chọn 2 thành phố chính (Torino, Ý và Havana, Cu Ba) cùng 2 thành phố kết nối (Huê, Việt Nam và Nairobi, Kenya) để tổ chức, phù hợp với chủ đề của năm là “Liên kết toàn cầu vì sự sống”. Trong gần 1 tuần (1-5/6/2001), thành phố Huế đã ngập tràn trong bầu không khí sôi nổi “môi trường”với hơn 30 hoạt động phong phú.
Ngày Môi trường thế giới 2010
Năm 2010 là năm Quốc tế về Đa dạng sinh học. Do vậy, UNEP đã lựa chọn chủ đề chính thức cho Ngày Môi trường thế giới năm 2010 là “Nhiều loài - Một hành tinh - Tương lai chúng ta” (Many Species. One Planet. One Future) và nước Cộng hòa Rwanda thuộc Châu Phi được chọn làm địa điểm tổ chức Lễ mít tinh quốc tế sự kiện môi trường quan trọng này.
Chủ đề Ngày Môi trường thế giới năm nay nêu lên những cảnh báo về sự suy giảm đa dạng sinh học với tốc độ báo động, một phần do quản lý chưa tốt và thiếu nhận thức về tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học đối với sự tồn tại của xã hội cũng như sự thịnh vượng lâu dài của nhân loại. Con người và hàng triệu loài cùng sinh sống trên hành tinh, cùng chia sẻ sự sống và sự phát triển bền vững trong tương lai.
Ngày 9/4/2010 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có công văn về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới 2010 ở nước ta. Theo đó, tỉnh Quảng Bình sẽ được chọn đăng cai tổ chức Lễ mít tinh Quốc gia hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới và Năm Quốc tế về Đa dạng sinh học 2010. Đồng thời, ở các Bộ, ban ngành, đoàn thể, các tỉnh, thành phố sẽ tổ chức chiến dịch tuyên truyền vận động giáo dục cán bộ và cộng đồng chấp hành tốt Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, lồng ghép các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới với Tuần lễ Nước sạch và Vệ sinh môi trường, từ 29/4 đến 6/5, Ngày Quốc tế Lao động 1/5, Ngày Quốc tế Gia đình 15/5.
Ngày 29/4/2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn số 2321/BGDĐT-KHCNMT hướng dẫn tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới 05/6/2010 trong hệ thống các cơ sở giáo dục và đào tạo, các đại học, học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các viện nghiên cứu trực thuộc.
Các hoạt động hưởng ứng trong các cơ sở giáo dục bao gồm:
tuyên truyền, vận động, giáo dục cho cán bộ, giảng viên, giáo viên, học sinh và sinh viên chấp hành tốt Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, triển khai tốt các chỉ thị và nghị quyết của Đảng về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước;
tổ chức mít tinh và triển khai các hoạt động cụ thể, thiết thực hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới như làm vệ sinh môi trường trên địa bàn; trồng cây phủ xanh đất trống, đồi trọc; sửa chữa, xây mới các công trình cấp nước sạch, công trình nhà vệ sinh;
lồng ghép các nội dung tuyên truyền, giáo dục về nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm môi trường, của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế - xã hội và sức khỏe con người; hướng mọi người tự giác hạn chế sử dụng nguồn nguyên, nhiên liệu có phát sinh khí thải gây hiệu ứng nhà kính, gây biến đổi khí hậu; tạo thói quen tự giác tham gia các hoạt động, phong trào bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo như than đá, dầu mỏ, khí đốt; bảo tồn các động vật hoang dã.
treo băng rôn, panô, áp phích, khẩu hiệu tại trụ sở cơ quan làm việc, trường học nhằm nhắc nhở mọi người cùng hành động bảo vệ môi trường.
đưa tin, bài viết tuyên truyền về ý nghĩa của Ngày Môi trường thế giới trên các tạp chí, website của đơn vị.
biểu dương khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân có nhiều thành tích trong hoạt động bảo vệ môi trường.
.

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2010

Dạy kiến thức Biến đổi khí hậu bằng... đề toán

.
Thay vì những đề toán bắn chim, săn thú có trong sách giáo khoa từ hàng chục năm nay, cô giáo Hoàng Thị Nho đã nghĩ ra ý tưởng xây dựng một bộ đề toán chuyên về bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu.

Những đề toán lạ!
“Nếu mẹ em có thói quen xách làn đi chợ thay vì đựng thực phẩm trong các túi nilon thì trung bình 1 ngày sẽ bớt được 11 túi nilon bị sử dụng. Hỏi trong 1 tháng, 1 năm nếu mẹ em có thói quen này thì sẽ bớt được bao nhiêu túi nilon thải ra môi trường? Và hãy thử tính toán nếu trong một khu phố có 1.200 người dân có các bà, các chị có thói quen tốt này thì một năm sẽ bớt được bao nhiêu kg túi nilon thải ra môi trường nếu biết rằng cứ trung bình 150 túi bằng 1kg túi nilon?”.


“Một văn phòng nhân viên có thói quen sử dụng máy điều hòa cả ngày. Nếu họ chỉ sử dụng 2 tiếng lúc thời gian nóng nhất trong ngày, hãy tính lượng điện mà văn phòng này tiết kiệm được trong một tuần, trong một tháng và một năm? Biết rằng mỗi tiếng sử dụng điều hòa tiêu hao mất 1.000W. Giả sử ở một huyện có 100 văn phòng biết sử dụng tiết kiệm và hạn chế sử dụng điều hòa theo cách trên, hãy tính lượng điện tiết kiệm được trong cả năm của huyện đó?”.

“Một trường học có 6 vòi nước. Cứ giờ ra chơi có 2 học sinh rửa tay và quên khóa vòi nước. Để nước chảy trong 45 phút. Hãy tính thời gian nước chảy lãng phí trong một buổi học, một tuần học, một tháng học và một năm học?”...

Trong 61 gian trưng bày tại vòng chung kết Ngày Sáng tạo Việt Nam 2010 diễn ra hôm 5-5, rất nhiều người tham quan triển lãm đã dừng lại ở gian trưng bày dự án “Đề toán về biến đổi khí hậu cho học sinh Trung học cơ sở và những hoạt động tiếp nối” để đọc những đề toán ngộ nghĩnh như thế. Những đề toán được viết to trên những tờ giấy xanh đỏ, đính trên những tấm nan tre, treo khắp gian hàng, cùng những bức tranh học sinh vẽ về môi trường. Chỉ thế thôi dự án đề toán cũng đã thu hút cả những chủ nhân gian hàng bên cạnh và ban giám khảo.
Cô giáo Trịnh Thị Quang, Hiệu trưởng Trường THCS Kiến Hưng, Phường Kiến Hưng, Quận Hà Đông - Hà Nội kể lại, ngay sau khi cô trình bày đề án, một thành viên Bam giám khảo đã không kìm được cảm xúc của mình và thốt lên: “Hay quá! Độc đáo quá!”.

Ý tưởng này là của cô giáo Hoàng Thị Nho, giảng viên ĐH Sư phạm Hà Nội, người đã có kinh nghiệm nhiều năm trong việc giảng dạy cho HS mầm non. Chị Nho đã chọn trường THCS Kiến Hưng là nơi triển khai đề tài của mình. Trường THCS Kiến Hưng khá rộng, HS lại chỉ học một buổi nên có hẳn một buổi còn lại để tham gia các hoạt động ngoại khóa. Thầy cô giáo vì thế cũng rảnh rỗi hơn các trường khác, có thời gian để tập huấn về các đề toán rồi truyền đạt đến HS. Cô hiệu trưởng Trịnh Thị Quang cho biết, nhà trường đã đồng ý tham gia thực hiện dự án ngay sau khi được chị Nho trao đổi về ý tưởng này.


Khi trẻ em thay đổi nhận thức của người lớn
Không phải chỉ giám khảo vòng chung kết mới ấn tượng bởi những đề toán, mà ngay từ vòng loại, đề án Đề toán và BĐKH cho học sinh THCS và những hoạt động tiếp nối đã nhận được những đánh giá cao từ ban giám khảo. Trong khi bảy thành viên Ban giám khảo nhóm 3 của vòng loại đã phải tranh luận rất lâu về danh sách các đề án vào chung kết của nhóm, thì riêng đề án này thì lại có được sự thống nhất cao.

“Ngày xưa chúng tôi đi học, chỉ được biết đến những đề toán dạng như: “Trên cành cây có 5 con chim. Hỏi bắn mất một con thì còn mấy con?”. Những nội dung như thế, khi đưa vào đề toán, lại trở nên phản giáo dục, nó ngấm dần vào một thế hệ nay đã là những ông bố bà mẹ thói quen tàn sát động vật hoang dã, hủy hoại môi trường. Còn cách làm của đề án này thì ngược lại hoàn toàn.”, ông Dương Thanh An, Phó Cục Trưởng Cục bảo tồn đa dạng Sinh học – Tổng cục môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, thành viên ban giám khảo vòng loại nhận xét.

Và cách ngược lại ấy của chị Nho là khi soạn đề toán, sẽ lờ đi những hành vi kém, hạn chế, mà chỉ đưa những hành vi tốt vào nội dung đề mà thôi. Theo chị, nếu nói đến bảo vệ môi trường, HS có thể biết, nhưng BĐKH là một khái niệm khá trừu tượng. Chính vì vậy qua đề toán, hành vi của con người được lặp đi lặp lại nhiều lần, giúp HS có thể tính toán được, nhận thức được vấn đề, rồi hành động theo những hành vi nhỏ ấy và khuyên người lớn thực hiện theo.

Chị Nho lấy ví dụ trong đề toán về túi nilon, cô không hỏi mỗi ngày dùng hết bao nhiêu túi nilon, mà hướng HS đến nếu một ngày mẹ em dùng làn đi chợ thì sẽ tiết kiệm được bao nhiêu tiền mua túi nilon. “Như vậy, tôi sẽ nhắc nhở HS là em có thể khuyên những người nội trợ như mẹ mình dùng làn đi chợ để vừa tiết kiệm được tiền túi nilon, vừa bảo vệ môi trường. Và sau này, khi các em trở thành người lớn, các em cũng nên xách làn đi chợ để tiết kiệm”, chị nói.

“Ngày xưa, người lớn hay giáo dục trẻ em phải làm theo mình, Nhưng ngày nay, trẻ em có thể thay đổi được nhận thức của người lớn. Khi đi với con, chúng ta sẽ không dám vượt đèn đỏ, không vứt rác bừa bãi ở nơi công cộng. Vì nếu làm như vậy, những đứa trẻ sẽ thắc mắc ngay”, ông Dương Thanh An thừa nhận. Và khi tác động vào ý thức của trẻ em, cũng có nghĩa là đề án đã giáo dục được cả người lớn.


Cơ hội để nhân rộng
Đây không phải là lần đầu tiên cô giáo Hoàng Thị Nho nghĩ ra ý tưởng và phối hợp với các trường thực hiện, mà đã là lần thứ tư chị Nho đoạt giải Ngày Sáng tạo Việt Nam. Năm 2007, cô giáo Nho cũng đã giành giải của Ngày Sáng tạo Việt Nam về An toàn giao thông với đề án “Những tình huống chơi đóng vai theo chủ đề an toàn giao thông cho trẻ mẫu giáo”. Đề án được áp dụng thành công tại Trường Mầm non Đống Đa và Trường Mầm non Tuổi Hoa quận Đống Đa, Hà Nội.

Những đề toán độc đáo từ ý tưởng đến cách trình bày


Sang năm 2008, vượt qua hàng trăm đề án dự thi khác, dự án “Giáo dục nội dung an toàn thực phẩm cho học sinh bằng phương pháp dạy học dự án” của chị lại được Ngân hàng Thế giới tài trợ 215 triệu đồng để triển khai tại trường Tiểu học Lê Hồng Phong và trường Tiểu học Nguyễn Trãi, quận Hà Đông.

Và năm nay, đối tượng mà chị Nho hướng đến không phải là trẻ mầm non hay tiểu học như những năm trước nữa, mà là HS THCS. Chị giải thích, với trẻ em mầm non và tiểu học thì khái niệm BĐKH hơi trừu tượng. HS THCS có khả năng biện luận tốt hơn, hành vi và thái độ của các em có tác động và ảnh hưởng tới cả người ít tuổi hơn và người lớn.

Tuy nhiên, theo chị, HS tiểu học cũng có thể áp dụng đề toán BĐKH này, nhưng ở mức độ đơn giản hơn. Ngay cả trẻ mầm non thì giáo viên cũng có thể áp dụng theo cách như: dùng dây lạt bó lại rồi cho các em đếm... Có nghĩa là với mức độ đề toán khó, dễ khác nhau, ý tưởng này có thể áp dụng được cho tất cả các cấp học.

Hai cô giáo Nho và Quang cho biết, đã triển khai thử một vài đề toán cùng những hoạt động ngoại khóa tại trường THCS Kiến Hưng và thu được kết quả tốt. Sau khi giải đề toán về túi nilon, HS của trường đã thực hiện cuộc phỏng vấn các bà nội trợ để tìm hiểu mức độ phù hợp các đồ dùng thay thế túi nilon, qua đó họ đã thu thập được nhiều ý kiến độc đáo, thậm chí người đặt câu hỏi còn chưa nghĩ đến.

Theo cô hiệu trưởng Trịnh Thị Quang, tháng 7 tới, trường sẽ nhận được số tiền tài trợ cho dự án là 262 triệu đồng. Đó là khoảng thời gian HS đã nghỉ hè, vì thế, dự án sẽ tập huấn kiến thức cho 40 giáo viên của trường. Việc triển khai giảng dạy đề toán BĐKH sẽ bắt đầu khi khai giảng năm học mới.

Sẽ có 40 đề toán như thế được xây dựng để giảng dạy ngoại khóa cho 528 học sinh của trường. Rồi những đề toán và những hoạt động củng cố sau mỗi đề toán ấy sẽ được tập hợp thành một bộ tài liệu và được gửi đến sở GD-ĐT của 63 tỉnh thành trong cả nước cùng 30 trường học khác.

Mặc dù đây mới là một thử nghiệm từ cấp dưới, nhưng những người thực hiện đều tin rằng, sau khi nó được triển khai thành công, sẽ có nhiều trường sử dụng tài liệu của họ áp dụng cho HS của mình. Và nếu có thể, những đề toán độc đáo ấy có thể được đưa vào sách giáo khoa áp dụng cho toàn quốc, thay cho những đề toán bắn chim, săn thú thuở nào...

(Thảo Lê - VietNamNet)
.

Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2010

Mẹ không thích đùi gà



Mỗi lần thịt gà, mẹ thường dành ăn phần đầu, chân, cổ, cánh rồi cả phao câu. Đùi, mẹ không ăn, vì “nạc, giắt răng lắm”


Như một thói quen, khi đĩa thịt gà chặt khúc được rắc lá chanh thái chỉ xanh ươm rồi bày lên mâm, bố gảy đũa gắp miếng lườn, em út chọn chỗ cánh sát nách gà thơm ngon, con thích chỗ lườn, vừa vừa thịt, còn mẹ nhận gặm đầu gà.

Bố, con, em út căm thù hai chỗ của con gà, đầu và cánh, toàn xương xẩu cứng nhắc, ăn ăn, mút mút mãi chỉ được chút da, mút cái đầu thì may mắn được cái óc. Ba bố con cũng chẳng bao giờ đụng đũa đến phao câu vì cho rằng nó mất vệ sinh dù được mẹ làm rất kỹ. Hễ miếng nào mấy bố con chê là mẹ ăn nhiệt tình, còn tấm tắc khen ngon. Vì thế, khi vớ được cái cổ, cái đầu hay phao câu, bố con tự động gắp vào bát mẹ.


Tại mẹ thích đầu, cổ gà nên suốt 20 năm trời, mẹ còn ấm ức. Hôm ấy, nhà bác Hóp hàng xóm có cỗ nên mang cho cả nhà một nửa con gà đã luộc. Mẹ xếp thịt ra đĩa, hối hả đi làm, không quên dặn hai chị em đến bữa trưa thì cơm nước trước rồi đi học và phần thức ăn, đậy lồng bàn cho mẹ. Bố là bộ đôi, công tác tận miền Nam. Cả tuổi thơ, con chẳng quen với bố. Mỗi lần về bố được nghỉ phép, con ôm búp bê mà bố mua cho, ngồi co ro ở hiên nhà, mẹ gọi cũng không vào.


Bây giờ, thỉnh thoảng, mẹ vẫn nhắc lại sự kiện ngày xưa ấy: “Trưa đi làm về, bụng đói, mở lồng bàn thì thấy hai đứa để phần một bát cổ, cánh, chân gà mà ứa nước mắt. Tối về hỏi thì nó ngơ ngác trả lời: Mẹ bảo thích ăn đầu gà mà”.


20 năm sau, mẹ vẫn nói thích khi được ăn cổ, cánh gà, kèm theo vài miếng thân gà ngon ngon, chứ tuyệt nhiên không đụng đến đùi gà. Chị em con giờ đã lớn, không tranh gặm đùi gà nguyên chiếc mà đồng ý để chặt đùi thành 3 khúc ngang. Chọn một khúc đùi bằng hai ngón tay đặt vào bát mẹ mà mẹ vẫn chối: “Nhiều nạc lắm, giắt răng”. Sau đó, mẹ đẩy miếng đùi vào bát của em út hoặc của con.

Ảnh minh họa


Phần đùi đúng là nhiều nạc thật nhưng lại ít giắt răng vì nạc ở chỗ đó là những thớ mịn, ngọt và mềm. Chỉ cần khéo dùng tay bóc thịt nạc dọc theo đùi, mẹ sẽ có những sợi thịt ngon ngọt và tơi. So với phần nạc ở sườn hay cánh gà thì rõ ràng, nạc chỗ đùi gà ngon nhất.

Con đã đủ lớn để suy luận mẹ bảo “đùi gà nhiều nạc, giắt răng” là không đúng. Con cũng đủ khôn để không phần mẹ toàn cổ, cánh dù mẹ một mực bảo thích. Con biết chọn những miếng ngon để phần mẹ dù rằng cuối cùng, mẹ lại để phần miếng ngon trong tủ lạnh, cho bữa cơm ngày hôm sau hoặc cho em út ăn với mỳ tôm vào bữa chiều, trước giờ đi học tối.

Mẹ không thích đùi gà vì một con gà chỉ có hai cái đùi, đủ cho hai đứa con. Giống mẹ, bố cũng chẳng ưa đùi gà. Con đã từng ước trở thành “kỹ sư gà” để lai ra giống gà 4 chân, đủ cho mỗi người trong gia đình ta 1 cái đùi. Nhưng con lại học kém môn Sinh, nên ước mơ chỉ là mơ hão.
Thế rồi con nghĩ rằng, cho dù có gà 4 hay 8 chân đi nữa , mẹ cũng không thích đùi gà vì chắc chắn, mẹ sẽ nhường lại cho các con. Tình yêu và sự hy sinh của mẹ sẽ chẳng bao giờ đổi thay.


Theo Trang Nhung (Dân Trí)

.

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2010

Tết trồng cây nhớ Bác


(Baonghean) - Cách đây hơn 50 mùa Xuân, Bác Hồ phát động "Tết trồng cây" đăng trên báo Nhân dân ngày 28-11-1959 với bút danh Trần Lực. Đây cũng là lần đầu tiên trên phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện 3 từ"Tết trồng cây". Chuẩn bị cho"Tết trồng cây" năm ấy, trước đó 6 tháng Bác đã khởi động với bài viết "Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở" đăng trên báo Nhân dân ngày 30-5-1959.


Để làm rõ ý nghĩa của việc trồng cây, Bác khẳng định: "Trong đời sống vật chất có hai việc quan trọng nhất là ăn và ở". Người dẫn chứng cụ thể để nhân dân dân thấy rõ hơn: "Trước kia, bọn vua quan thì có gác tía lầu son, bọn địa chủ thì có cửa cao, nhà rộng. Nông dân lao động thì chỉ có lều tranh vách đất, thường không đủ che nắng, che mưa."Từ những so sánh đó, Bác nghĩ tới việc chuẩn bị cây giống cho "Tết trồng cây". Người động viên mọi người: "Ngay từ bây giờ, đồng bào nông dân phải bắt tay vào việc chuẩn bị vật liệu làm nhà. Mỗi người (trong mỗi gia đình, tính cả già, trẻ, gái , trai) phải trồng ít nhất là năm cây (cây xoan và các cây khác có thể làm kèo, làm cột). Và mỗi gia đình phải trồng một bụi tre". Bác phân tích ý nghĩa xã hội của "Tết trồng cây": "Trong mươi năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta".


Đọc lại nội dung các bài viết của Bác Hồ về trồng cây, chúng ta càng thấm thía lời căn dặn của Người, sự quan tâm của Người từ những việc nhỏ nhất, cụ thể nhất đối với đất nước ta, dân tộc ta và mỗi người dân.

Từ "Tết trồng cây" đầu tiên cho đến lúc đi vào cõi vĩnh hằng năm 1969, Bác Hồ đã viết 10 bài cho báo Nhân dân về chủ đề trồng cây. Trong đó có 5 bài Người lấy tiêu đề "Tết trồng cây". Tuỳ từng thời điểm lịch sử mà Bác Hồ phát động "Tết trồng cây" mang tính thời sự về nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Năm 1959, thời điểm cả nước thi đua hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam. Bác viết: "Bên đợt thi đua ấy, chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày "Tết trồng cây". Việc này tốn kém ít mà lợi ích nhiều". Người nhấn mạnh: "Đó cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia".

"Tết trồng cây" năm 1963 trong không khí nhân dân miền Bắc hướng về miền Nam - thành đồng tổ quốc, Bác viết: "Tết trồng cây chẳng những có ý nghĩa kinh tế, mà còn có chính trị to lớn. Trong lúc bọn Mỹ-Diệm dã man bỏ thuốc độc phá hoại cây cối núi rừng ở miền Nam, thì ở miền Bắc nhân ta thi đua trồng cây gây rừng. Chỉ một việc đó cũng đủ làm cho người ta so sánh giữa hai chế độ ta và địch, và nhận rõ sự tốt đẹp của chế độ ta. Ta trồng cây cho ta và cho cả đồng bào miền Nam nữa".

Mùa xuân năm 1965, "Tết trồng cây" thứnăm. Mở đầu bài viết “Năm mới hãy nhiệt liệt tổ chức "Tết trồng cây", Bác dùng câu thơ mộc mạc nhưng khái quát ý nghĩa của việc trồng cây, gây rừng: Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân. Bác viết tiếp: "Tết trồng cây” bắt đầu phổ biến từ mùa xuân năm 1960. Vì lợi ích rõ rệt, cho nên nhân dân hăng hái hưởng ứng và ở nhiều nơi đã thành một phong trào quần chúng. Từ đó đến nay vừa 5 năm, miền Bắc nước ta đã trồng được hơn 375 triệu cây các loại. Ngoài ra còn có hơn 200 triệu cây bảo vệ đê ở vùng biển". Sau khi điểm lại một số địa phương có phong trào khá, Bác biểu dương những nơi mới vươn lên: "Có những tỉnh trước kia kém, nay chuyển khá, như Nghệ An, Sơn Tây". Bác lưu ý với các địa phương "Chúng ta đang chuẩn bị xây dựng nông thôn mới. Việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng nhà ở cho đàng hoàng. Muốn vậy, thì ngay từ bây giờ phải trồng cây nhiều và tốt để lấy gỗ. Chỉ một việc đó đủ thấy cần phải đẩy mạnh phong trào Tết trồng cây... Năm nay, chúng ta sẽ kết thúc thành công kế hoạch năm năm lần thứ nhất và chúc mừng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hai mươi năm.. Đồng bào ta nên hăng hái tổ chức một phong trào Tết trồng cây thắng lợi (cố nhiên trồng cây nào phải tốt cây ấy) để làm món quà kỷ niệm xứng đáng với hai sự kiện ấy".

Năm 1969, trong bàiTết trồng cây cuối cùng, mở đầu Người viết: "Ngày nay, đồng bào ta ai cũng hiểu rõ trồng cây gây rừng có ích lợi to lớn cho kinh tế và quốc phòng. Vì vậy, Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả năm, đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta".

Không chỉ khởi xướng "Tết trồng cây" mà chính Bác Hồ luôn gương mẫu tham gia "Tết trồng cây".Năm 1960 "Tết trồng cây" đầu tiên Bác Hồ trồng cây đa tại công viên Bảy mẫu - tức công viên Thống nhất, nay là công viên Lê Nin - Hà Nội. Sáng mồng một tết Kỷ Dậu, 16-2-1969 tại xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Bác trồng cây đa cuối cùng. Sự kiện này là nguồn động viên lớn lao đối với nhân dân ta, dấy lên phong trào Tết trồng cây đầu xuân đời đời nhớ ơn Bác.

Từ truyền thống Tết trồng cây, năm 1995 ngành Lâm nghiệp vinh dự được Thủ tướng Chính phủ quyết định chọn ngày 28-11 hàng năm là Ngày Lâm nghiệp Việt Nam.

Làm theo lời dạy của Người "Mùa xuân là Tết trồng cây", cùng với cả nước, những năm qua Nghệ An thường xuyên duy trì Tết trồng cây đầu xuân. Hơn 50 năm qua các tầng lớp nhân dân, các địa phương trong tỉnh đã trồng hàng chục triệu cây phân tán. Mỗi năm tết trồng cây từ 2-3 triệu cây phân tán và phát triển 10.000 đến 12.000 ha rừng tập trung. Công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng được cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể Mặt trân Tổ quốc các cấp quan tâm, góp phần quan trọng "vào việc cải thiện đời sống cho nhân dân" và môi trường sinh thái.

Năm nay, cả nước hướng tới kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, xin được nhắc lại lời dạy của Người trong bài viết Tết trồng cây cuối cùng: "Năm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải bảo đảm trồng cây nào tốt cây ấy".
Làm được điều đó chính là chúng ta thực hiện tốt tư tưởng Hồ Chi Minh về Tết trồng cây: "Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân".


Phan Nguyễn

.

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2010

Cảm nhận từ một kỳ thi



QUYẾT TÂM THỰC HIỆN “KỲ THI SẠCH”

Những năm gần đây, từ “sạch” được dùng khá nhiều trên mọi lĩnh vực và được sự quan tâm sâu sắc của nhiều người, nhiều ngành, nhiều quốc gia; như cơ chế phát triển sạch (CDM), nước sạch, rau sạch, hoa quả sạch... thậm chí còn có cả quán “gà sạch”.
Trong lĩnh vực giáo dục, phong trào “hai không” cũng đã được phát động và triển khai sâu rộng. Chống tiêu cực trong thi cử là mong muốn có được “kỳ thi sạch”. Việc này muốn đạt được kết quả cao thì khâu tổ chức thi là một mắt xích quan trọng quyết định sự thành công của việc chống tiêu cực này.
Vào ngày đầu năm 2010, nhà trường tổ chức thi học kỳ 1 cho HSSV toàn trường. Đây là công việc bình thường được thực hiện vào mỗi cuối học kỳ. Tuy nhiên đợt này có một biểu ngữ đập ngay vào mắt và thấm sâu trong tâm khảm của Thầy và Trò trường ta, biểu ngữ này do các bạn trẻ ĐVTN của trường in ấn và treo lên ở vị trí trung tâm của trường để nhắc nhở chúng ta phấn đấu thực hiện tốt hơn: “HSSV trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An quyết tâm thực hiện tốt kỳ thi sạch”
Thực hiện “kỳ thi sạch” là một thành tích đáng tự hào, đã được khẳng định và thừa nhận của trường ta, việc sử dụng tài liệu hầu như không còn. Tuy nhiên sau mỗi buổi thi vẫn thấy bóng dáng tài liệu rơi rớt lác đác, mặc dù đó vẫn là “tài liệu sạch” chưa sử dụng mà một vài em “lận lưng quần” để yên tâm làm bài.
Thực hiện nghiêm túc “kỳ thi sạch” làm cho các buổi thi nhẹ nhàng hơn, các chị phục vụ hội trường cũng vơi bớt phần vất vả. Trò thì chuyển từ chuẩn bị tài liệu sang chuẩn bị kiến thức. Thầy thì chuyển từ “bắt tài liệu - lập biên bản” sang chờ thời gian để thu bài “sạch” (mặc dù vẫn còn cá biệt một số bài sạch đến mức nạp giấy trắng tinh). Tôi cảm nhận rằng trong mỗi buổi thi không còn phải “tra tấn” nhau nữa. Không khí phòng thi nhẹ nhàng hơn, tâm lý các em thoải mái hơn và vì vậy các em làm bài tốt hơn.
Khi được hỏi nhanh về tổ chức các kỳ thi, SV Nguyễn Thị Thanh lớp K3-01 ngành TCNH cho rằng: “Nhìn chung ở trường ta tổ chức thi nghiêm túc, tuy nhiên vẫn còn một số ít sử dụng tài liệu hoặc quay cóp của nhau”. Riêng kỳ này em đã thi 2 môn nhưng trong phòng không sử dụng tài liệu. Tuy nhiên vẫn còn trao đổi bài, đặc biệt là hỏi nhau về kết quả bài tập. Còn về đề thi em có nhận xét là mức độ kiến thức vừa phải, hoàn toàn nằm trong chương trình đã học và đảm bảo được bí mật. Được biết bản thân em trong 5 kì thi chưa bao giờ sử dụng bất kỳ một loại “phao” nào. Khi được hỏi em có đề xuất gì cho việc tổ chức kỳ thi thì em thẳng thắn rằng: “kỳ thi cần phải tiếp tục thực hiện nghiêm túc hơn nữa để đảm bảo công bằng giữa HSSV tích cực học tập với những HSSV chây lười”
Còn HS Nguyễn Thị Hiền ở lớp KTTM K32 đã thi được đến kỳ thứ 3 có nhận xét các CBCT làm việc thật nghiêm túc, không thiên vị ai, không có hiện tượng gửi gắm trong thi cử. Còn có một số không nhỏ đạt kết quả thấp là do các em chưa xác định được ngành nghề mình đang học, chỉ xem đây là “nơi dừng chân tạm” trên con đường tìm kiếm tiếp thu kiến thức cho bản thân.
Đạt được những kết quả trên là cả một quá trình phấn đấu bền bỉ của Thầy và Trò trường ta. Tuy nhiên để có được kỳ thi thật sự “sạch” thì Thầy và Trò còn phải nỗ lực phấn đấu nhiều. Đâu đó vẫn còn hiện tượng nhìn bài của bạn, trao đổi bài dưới nhiều hình thức khác nhau. Thủ tài liệu trong người khi thấy có thể được là dùng... Mong rằng những hạt sạn nhỏ này sẽ được nhặt ra, gạt ra khỏi cái nền mà chúng ta đã tạo nên. Để rồi sạch kỳ thi, sạch ttrường, sạch xã hội và trên con đường tiến bước tương lai của các em luôn luôn có những kiến thức sạch./.
2/1/2010

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2009

Ðôi bên sông Bùng – Một vùng văn hóa

(Baonghean) - Với tôi, sống xa quê, hình ảnh con sông luôn làm tôi thèm tiếc cả một thời thơ ấu, để rồi mỗi lần được gặp người quê hàn huyên, tôi lại quắt lòng bởi nhớ quê hương da diết...


“Qua nửa đời phiêu bạt
Con lại trở về úp mặt vào sông quê
Ơi con sông dạt dào như lòng mẹ
Che chở con qua chớp bể mưa nguồn…”



Có lẽ nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã nói hộ tình cảm của rất nhiều người xứ Nghệ sống xa quê. Nếu ai biết nhà thơ tài hoa này đã từng sinh ra và lớn lên ở một làng quê, bên con sông Bùng xứ Diễn, hẳn đều đồng cảm và sẻ chia với ông qua tứ thơ này. Riêng với tôi, sống xa quê, hình ảnh con sông luôn làm tôi thèm tiếc cả một thời thơ ấu, để rồi mỗi lần được gặp người quê hàn huyên, hay về quê, tôi lại quắt lòng bởi câu thơ đó.



Lèn Hai Vai

Sông Bùng bắt nguồn từ những dòng sông, suối nhỏ như sông Du, Vũ Giang, Khe Cát của huyện Yên Thành và hợp lưu nơi đất Diễn Châu, chảy qua các xã Diễn Quảng, Diễn Hoa, Diễn Kỷ, sau đó đổ ra biển Diễn Ngọc. Con sông Bùng cứ lặng lẽ trôi – chảy qua miền ký ức. Hình ảnh của vùng quê xứ Diễn luôn lắng đọng trâm tâm tưởng những người con xa quê.
Diễn Châu là vùng đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, những địa danh gắn với các huyền thoại như Thành Diễn Châu - nơi chứng kiến trận đánh quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, thế kỉ XV; Cầu Bùng - cây cầu nằm trên con đường huyết mạch Bắc – Nam, nơi được coi là túi bom trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; núi Mộ Dạ - nơi An Dương Vương được thần Kim Quy mở lối thoát về phía biển khi trốn chạy giặc Triệu. Ngày nay ở phía Bắc chân núi Mộ Dạ gần cửa Tư Hiền còn có mộ của công chúa Mỵ Châu.
Đền Cuông thờ vua An Dương Vương

Diễn Châu cũng là nơi phát tích của những anh tài, khoa bảng. Ở Diễn Châu những dòng họ khoa bảng có nhiều, nhưng nổi tiếng nhất là họ Ngô và họ Đặng. Dòng hộ Ngô ở Lý Trai (xã Diễn Kỷ) liên tiếp 4 đời đỗ 5 tiến sĩ. Dòng họ Đặng ở Nho Lâm (xã Diễn Thọ) có 3 cha con đều đỗ đại khoa. Một số tên tuổi đại khoa người Diễn Châu mà cả nước đều biết đến như Ngô Trí Hòa, Ngô Trí Tri, Nguyễn Xuân Ôn…. Về Diễn Châu, dân gian vẫn còn truyền tụng câu đối nôm nói về sự đỗ đạt của 2 dòng họ Ngô – Đặng: “Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa / Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà”.
Nói đến Diễn Châu là nói đến một vùng đất phong cảnh hữu tình. Sách xưa đã từng liệt kê trong số 8 cảnh đẹp của “Đông Yên Nhị Châu” (vùng đất thuộc tổng Yên Thành xưa) thì có 6 cảnh đẹp thuộc về Diễn Châu, đó là: Dạ Sơn Linh Tích (Dấu thiêng núi Mộ Dạ - thuộc xã Diễn An), Cao Xá Long (gò rồng Cao Xá), Bùng Giang Thu Nguyệt (tràng thu trên sông Bùng), Bích Hải Quy Phàm (cánh buồm về cửa Bích), Thiên Uy Thiết Cảng (kênh sắt oai trời), Diễn Thành Thạch Bảo (thành đá phủ Diễn Châu). Tao nhân mặc khách thuở nao đã luôn phải động lòng trước Bích Hải Quy Phàm (cửa Vạn ngày nay). Họ từng phải thốt lên:
Phủ hám Bùng giang cổ độ đầu
Nhất luân minh nguyệt cáp phùng thu
Trùng trùng quế phách hàm giang trữ
Trạm trạm kim hàn tẩm bích lưu.
Có nghĩa rằng:
Cúi đầu nhìn xuống bến đò cũ sông Bùng
Một vầng trăng sáng quắc, ấy chính là buổi đang thu
Phách cây quế trong suốt đến đáy cả bến nước
Chiếc mâm vàng trong trẻo ngâm dưới dòng xanh...
Đến Diễn Châu, không ghé thăm cửa Vạn hẳn đó sẽ là một tiếc nuối. Đứng ở Cửa Vạn nhìn ra Biển Đông với bao la bát ngát của trời, của biển, với nắng và sóng, bạn sẽ nhận ra hồn vía của cả một vùng văn hóa Xứ Diễn. Văn hóa xứ Diễn vừa có nét đặc thù của văn hóa Xứ Nghệ - miền Trung, vừa có sắc thái riêng khiến người ta phải ngạc nhiên. Giọng nói của người Diễn Châu âm điệu khác hẳn với giọng nói của các vùng miền khác ở Xứ Nghệ. Dân Diễn Châu “Ăn to nói lớn”, “Bụng dạ thẳng tưng”, quý người và không để bụng. Họ cần cù, chất phác, chịu thương, chịu khó cho nên đi đâu cũng sống được. Tính cần cù, “thắt lưng buộc bụng”, cộng với sự ham học hỏi đã làm nên thành công của người Diễn Châu khi bước ra cuộc sống. Có lẽ uống nước sông Bùng, tắm phù sa của sông Bùng, cư dân ở đây trong cách ăn, cách nói, nếp nghĩ, nếp làm đều mang “cái gu” khó trộn lẫn.
Không rộng dài, kỳ vĩ như sông Hồng, sông Mã, cũng không thơ mộng như sông Hương… Sông Bùng cứ lặng lẽ chảy giữa đôi bờ xứ Diễn và tạo dựng nên một vùng miền văn hoá rất đặc trưng - vùng văn hoá mang khí thiêng của “lèn Hai Vai- sông Bùng”, trong cái mạch nguồn văn hoá “Sông Lam - Núi Hồng” xứ Nghệ.
Với lợi thế của một vùng đất mà một bên là dải đồng bằng trù phú, màu mỡ, một bên là biển Đông. Cùng với điều kiện tự nhiên cũng ưu ái cho người Diễn Châu, vùng đất được coi như một tiểu vùng không bị ảnh hưởng nhiều của gió Lào (Do có núi Mộ Dạ nằm ở phía Nam nên gió Lào về tới đây bị chặn lại), khiến cho khí hậu Diễn Châu “mát mẻ” hơn so với các vùng miền Trung Bộ khác. Tất cả những điều đó làm cho Diễn Châu được coi là vùng đất “đủ đầy” hơn so với nhiều khu vực khác ở xứ Nghệ.
Hiếm có một dải đất nhỏ hẹp nào lại tập trung nhiều nghề truyền thống như ở Diễn Châu. Đất Diễn Châu với nhiều nghề truyền thống như: luyện thép ở Nho Lâm (Diễn Thọ), dệt vải ở Phượng Lịch (Diễn Hoa), nghề mộc ở Tràng Thân (Diễn Phúc), nước mắm Vạn Phần (Diễn Vạn), nón lá Diễn Đồng, đẽo sò ở Diễn Thành…Cùng với việc duy trì những làng nghề truyền thống, giờ đây Diễn Châu xuất hiện nhiều làng nghề mới theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế như chuyên canh cây lương thực Diễn Kỷ; dâu tằm tơ Diễn Kim; bún bánh Diễn Quảng; chế biến hải sản Diễn Bích, Diễn Ngọc; chổi đót Diễn Đoài; đúc đồng, nhôm Diễn Tháp…
Ngày nay, cùng với các vùng miền khác của cả nước, kinh tế của huyện Diễn Châu ngày càng phát triển. Trong dòng chảy của thời kỳ hội nhập, nhưng những bản sắc văn hóa của người dân đôi bờ sông Bùng vẫn không bị nhạt phai. Người Diễn Châu đã, đang và sẽ tạo ra nhiều huyền thoại. Khí thiêng của lèn Hai Vai – sông Bùng luôn tạo ra những con người như thế.
Bất chợt tôi lại…
Gửi hồn neo đậu bến quê
Bao nhiêu xa ngái dồn về một nơi
Sông quê bên lở bên bồi
Để tôi mang nợ cả đời với quê.

Nguyễn Thanh Điệp

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

Thương lắm phong bì ơi!


(Huỳnh Cương - Congannghean.vn)-Từ ngày chuyển sang cơ chế thị trường, phong bì cũng chuyển đổi chức năng, không còn đựng thư từ mà còn đựng tiền. Tình cảm đã được vật hoá thành ngân hàng, đô la, để người nhận có thể đo đếm được.

Xin các bạn đừng vội cho rằng H.C này cạn kiệt hết vốn chữ nghĩa rồi hay sao mà lại tương một cái tít giật gân như thế lên mặt báo, sặc mùi cải lương, giữa lúc thiên hạ đang cực lực phê phán tệ nạn phong bì.
Hãy bình tĩnh, mọi vấn đề đều phải được xem xét một cách toàn diện, lịch sử theo phép biện chứng.
Nếu bạn đã từng là anh lính hải quân ở trên một hòn đảo chìm, đảo nổi Trường Sa, hẳn bạn sẽ mong chờ da diết một cánh thư từ đất liền gửi ra. Lá thư đựng trong phong bì đã vượt qua hàng triệu ngọn sóng để đến với bạn. Bạn đọc thư và giữ cả chiếc phong bì đó như một báu vật.
Hồi còn nhỏ, ở quê, có lần tôi nhận được phong bì của ông Tổng biên tập báo tỉnh gửi, báo tin mẩu tin bao diêm đầu tiên tôi viết đã được in và động viên tôi tiếp tục cộng tác. Tôi sung sướng còn hơn bắt được vàng. Tôi dán chiếc phong bì lên bức vách cạnh tấm huân chương kháng chiến của bố tôi và mãi đến nay vẫn còn giữ được mấy dòng chữ của sếp nhà báo.
Các bạn thấy chiếc phong bì có đáng yêu, đáng trọng không nào.
Từ ngày chuyển sang cơ chế thị trường, phong bì cũng chuyển đổi chức năng, không còn đựng thư từ mà còn đựng tiền. Tình cảm đã được vật hoá thành ngân hàng, đô la, để người nhận có thể đo đếm được.
Giờ đây, không có phong bì làm sao có thể dễ dàng xin đất làm nhà, chữa bệnh chóng khỏi, đưa con vào trường điểm, chạy xuất khẩu lao động. Rồi còn chạy chức, chạy quyền, chạy học hàm học vị..., mua các danh hiệu cao quý, trở thành sao trên các lĩnh vực đời sống.
Phong bì trở thành đồng loã với những kẻ xấu, trở thành vật bao che cho những cái đen tối trong lòng nó.
Không có phong bì làm sao các xếp tham nhũng có xe hơi xịn, có biệt thự nguy nga, có tiền gửi ngân hàng nước ngoài, nếu như mọi người chỉ biết tặng mấy bông hoa rẻ tiền và cảm ơn mồm.
Nói như thế không phải vơ đũa cả nắm, vẫn còn những phong bì trong sáng, nhân ái khi chúng ta câm nó bỏ vào thùng, chia sẻ khó khăn, nhường cơm sẻ áo cho đồng bào bị lũ lụt, cho những em bé đang cần mổ tim, cho những gia đình bị chất độc đi - ô - xin...
Những kẻ tham nhũng hí hửng đón nhận phong bì hối lộ, sau khi say sưa kiểm tra món ngân hàng, đô la, cẩn thận bỏ vào tủ sắt, khoá lại liền vứt toẹt chiếc phong bì vào sọt rác. Cảnh giác hơn họ cho một mồi lửa để phi tang. Phong bì bị thiêu sống. Thương lắm phong bì ơi!

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

Vườn thị cổ – cần phải được “định giá” và có chiến lược bảo tồn



Vào một ngày ấm áp đầu đông, chúng tôi “bố trí” được cơ hội về thăm lại “vườn thị cổ” của ông Lê Minh Thưởng ở Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ An. Vẫn với sự nhiệt tình đón khách của cụ Thưởng với những câu chuyện kể về xưa và nay làm cho độ hưng phấn của chúng tôi càng lên cao hơn.

Tuy đã ở tuổi "cổ lai hy" nhưng chủ nhân vẫn rất nhanh nhẹn và nhiệt tình hướng dẫn - ảnh Hoàng Hoa Quế


Chúng tôi được “mắt thấy tay sờ” các cây thị cao hàng chục mét, đường kính có cây đến gần 3m. Nhiều cây đã mục rỗng ruột bên trong nhưng bên ngoài vẫn còn biểu hiện sức sống khỏe khoắn của các đại thụ.


Cây thị (Diospyros decandra Lour) thuộc họ thị (ebenaccae) rất gần gũi với chúng ta, được trồng rải rác trong các vườn gia đình, nhất là ở đình chùa, miếu mạo để lấy quả. Theo kinh nghiệm dân gian, hầu hết các bộ phận của cây thị đều được dùng làm thuốc chữa bệnh rất tốt. Chắc không phải chỉ là tự nhiên mà tác giả vô danh của chuyện Tấm Cám cho cô Tấm từ trong quả thị chui ra. Người cô gái ấy chắc phải thơm lắm, vì quả thị có màu đẹp thế, da thịt căng thế, hương thị thơm thế. Nếu không thì sao cô Tấm không chui ra từ quả mít, quả na, quả sầu riêng, quả bứa thật chua, quả dừa toàn nước...?


Qua lời giới thiệu của chủ nhân vườn thị, chúng tôi biết được “tính nết” của từng cây cây: cây thì quả to như quả cam, cây thì quả nhỏ nhưng thịt thơm ngọt và không có hạt(?), 5 cây thị cổ nhất trong vườn này có tuổi khoảng 600 năm(?). Cụ kể rằng (theo cuốn gia phả họ Lê Văn) vào thế kỷ 16, Lê Văn Hoan, một người con của dòng họ này, theo nghĩa quân Tây Sơn và được phong tướng quân; khi hành quân ra Bắc đánh nhà Trịnh, ông đã cho đại quân dừng chân ở vùng đất thiêng này, cho cột đàn voi chiến dưới những gốc cây thị cổ thụ và sai người lập đền thờ bên cạnh cây lớn nhất. Rồi những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, hàng chục, hàng trăm lượt đơn vị bộ đội đã trú quân dưới những gốc thị già trước khi hành quân vào Nam chiến đấu.


Điều thật ngạc nhiên là mặc dầu nơi đây là trọng điểm ném bom, bắn phá của máy bay Mỹ, vùng đất này đã gánh chịu hàng chục tấn bom đạn, không một tấc đất nào nơi đây không bị cày xới, nhà thờ họ Lê Văn (ở trong vườn) đã bị bom đạn làm cháy, nhưng 5 cây thị không hề bị trúng quả bom nào.
Năm tháng qua đi, những cây thị giờ đã già lắm rồi, nhưng nhựa sống vẫn tràn trề, hàng năm cây vẫn đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái. Tuy nhiên những áp lực đè nặng lên những cây thị cổ này là mối, mục phá hại và biết đâu một ngày nào đó nó bị... bán mất đi???

Vì vậy theo tôi 5 cây thị cổ này cần được xác định giá trị và có chiến lược bảo tồn. Về giá trị của nó thể hiện ở các mặt sau đây:

Thứ nhất là giá trị về sinh thái:
Với tán hình ô, xòe rộng hàng chục mét, các cây thị đã tạo nên độ khép tán gần kín toàn bộ khu vườn hàng ngàn m2 tạo nên bóng mát xanh trong lành, nếu được đầu tư để kinh doanh kiểu du lịch sinh thái thì chắc chắn nơi đây sẽ là điểm nhấn trong hệ thống du lịch sinh thái của Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung.

Giữ được cây cổ thụ như thế này ở trong vườn là một kỳ công của dòng họ Lê Văn -ảnh HHQ


Thứ hai là giá trị về tâm linh:
Đối với người Việt, cây cối là loại sinh thể đặc biệt, có đời sống trực giác tâm linh y như con người; có năng lượng phát ra và tương tác được với năng lượng của con người. Vì vậy, cây cối được người Việt sử dụng trong phép điều hòa môi trường sống (phong thủy) như là những nội dung chủ đạo (cùng đá, nước, núi, phương hướng..). Mặt khác, cây còn được coi là nơi trú ngụ của các vị thần linh hay ma quỷ. Dân gian người Việt có câu: "Cây thị có ma, cây đa có thần". Những cây cổ thụ thường được nhân dân thắp hương, lập miếu thờ cúng.


Tục thờ cây của nhân dân Việt Nam - ảnh Tăng Văn Tân


Thứ ba là giá trị về lịch sử:
Vườn thị này đã “chứng kiến” nhiều sự kiện lịch sử của nước nhà như: là nơi dừng chân của nghĩa quân Tây sơn trên đường tiến quân ra Bắc???. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ là nơi dừng quân của các đơn vị bộ đội trước khi vào Nam. Nơi đây còn là căn cứ chỉ huy chiến đấu của tỉnh đội Nghệ An (ông còn chỉ cho chúng tôi xem chỗ đào hầm chữ A dưới gốc cây, chỗ cây mục dùng để nhốt các chiến sĩ vi phạm kỉ luật)


Thứ tư là giá trị về nghiên cứu khoa học:
Trải qua 600 năm, các cây thị đã ghi lại dấu ấn của những biến động về thời tiết, bức tranh về thời tiết được “ghi” lại trong từng thớ gỗ. Các nhà khoa học có thể “giải mã” về sinh trưởng của cây qua các thời kỳ...

Thứ năm là giá trị về kinh tế:
Mỗi năm vườn thị này cho hàng tấn quả. Quả thị có vị ngọt, thơm nên được người dân mua về thưởng thức. Mùa quả chín rộ vào tháng 7 âm lịch hàng năm lại trùng với mùa du lịch nghỉ mát Cửa Lò, nhiều đoàn khách biết được đây là những cây thị cổ nên đã đặt mua hàng ngàn quả. Điều lạ kỳ mà chúng tôi nhận thấy là lúc này đã vào mùa đông mà vẫn có cây cho quả trĩu cành. Biết chúng tôi có ý định xin hái quả làm kỉ niệm, ông thoăn thoắt leo lên và hái cho chúng tôi hàng chục quả.
Theo lời ông, có “đại gia” đến trả 5 cây thị cổ này 2,5 tỉ VND nhưng ông vẫn từ chối. Ông nói, ông muốn giữ lại cho gia đình, cho quê hương một món quà vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng và tổ tiên đã có công giữ gìn.

Vào mùa đông mà cây vẫn cho trĩu quả - ảnh Hoàng Hà


Chúng tôi ra về nhưng vẫn còn lưu luyến mãi, lưu luyến không chỉ vì sức sống diệu kì của các cây thị cổ mà còn vì sự nhiệt tình của chủ nhân. Hiện nay, chiến tranh đã đi qua, nhưng liệu các cây thị cổ này có còn lưu giữ được trong cơ chế kinh tế thị trường hay không? được biết hiện nay 2 trong 5 cây đã có bị mục rỗng, lại bị mối đất tấn công, mặt khác đã có người muốn mua đào đi nơi khác.

Đã đến lúc các các cơ quan chức năng cần phải xác minh cụ thể về niên đại, giá trị và có giải pháp bảo tồn vườn thị có một không hai này./.

11/2009

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2009

Các quân cờ

.
Trên bàn cờ,
Xe tranh công: chỉ có mình mạnh nhất
Dọc ngang nào ai cản được bước ta
Pháo mỉa cười: nếu gặp khoảng cách xa
Xe sao câu trúng được đầu quân địch?

Nghe thế
Sĩ, Tịnh liền tranh tâu thành tích
Không có ta bảo vệ cổng thành
Liệu “ông Tướng” có được lành yên ?
Cho các anh đánh đông dẹp bắc?

Im ngay, tất cả đừng dương dương tự đắc
Chúng mày chỉ là những kẻ bị khiến sai
Gặp người điều khiển chúng bay có đức, có tài
Thì dù con gì cũng được hoan nghênh chào đón

Nếu điều khiển là người tài hèn sức mọn
Chúng mày phải chạy quanh co trên bàn cờ như những con rối ngu si
Pháo hay Xe... nào có giá trị gì???
Thua chú Tốt của bên quân địch

Phải biết phát huy sức mạnh của mình khi cần thiết
Cài cắm vào nhau trong thế trận hợp tình
Đừng tranh nhau đứa nào giết được nhiều sinh linh
Cùng hợp lực để đến bến bờ chiến thắng
.

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2009

Phạt 500 triệu hành vi săn, bắn động vật rừng, vận chuyển lâm sản trái phép

(Chinhphu.vn) - Với mức phạt cao như vậy, Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 2/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã tạo cơ sở pháp lý để phạt nặng các hành vi vi phạm, hạn chế tình trạng chặt phá rừng và khai thác lâm sản trái phép đang gia tăng hiện nay.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2010 và thay thế Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007.
Mức phạt cao nhất tới 500 triệu đồng

Người VPHC trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Ngoài ra, tùy theo tính chất mức độ vi phạm mà còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.

Theo đó, người có hành vi lấn, chiếm rừng trái pháp luật bị phạt tiền từ 2 - 50 triệu đồng; vi phạm các quy định của Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy rừng gây cháy rừng bị phạt từ 3 - 50 triệu đồng tùy theo hậu quả đã gây ra.

Người có hành vi phá rừng trái pháp luật thì bị phạt từ 200.000 đồng đến 50 triệu đồng tùy theo diện tích rừng bị phá hoặc loại rừng là rừng sản xuất, rừng phòng hộ hay rừng đặc dụng. Đối với các hành vi khai thác rừng trái phép, mức phạt có thể lên tới 200 triệu đồng.

Đặc biệt, người có hành vi săn, bắn, bẫy, bắt; nuôi, nhốt; giết động vật rừng trái pháp luật; vận chuyển lâm sản trái pháp luật hay mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái các quy định của Nhà nước có thể bị phạt với mức cao nhất là 500 triệu đồng.

So với Nghị định 159/2007/NĐ-CP quy định mức phạt cao nhất chỉ tới 30 triệu đồng, Nghị định mới đã tăng mức xử phạt cao gấp nhiều lần, góp phần hữu hiệu trong việc ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng và khai thác lâm sản trái pháp luật.
Thầm quyền xử phạt
Lực lượng Kiểm lâm và Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

Các cơ quan chức năng như Công an, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Thuế, Quản lý thị trường, Thanh tra, các chủ rừng có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan Kiểm lâm trong việc kiểm tra, thanh tra, ngăn chặn các hành vi vi phạm.

Nghị định cũng quy định cụ thể thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thủ tục xử phạt và thi hành quyết định xử phạt.

Phương Mai
(Nguồn: Nghị định 99/2009/NĐ-CP)