Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2022
SỐ PHẬN BI ĐÁT CỦA HAI BỨC THƯ
Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2010
Cảm nhận từ một kỳ thi

2/1/2010
Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009
Vườn thị cổ – cần phải được “định giá” và có chiến lược bảo tồn
Vào một ngày ấm áp đầu đông, chúng tôi “bố trí” được cơ hội về thăm lại “vườn thị cổ” của ông Lê Minh Thưởng ở Nghi Thịnh, Nghi Lộc, Nghệ An. Vẫn với sự nhiệt tình đón khách của cụ Thưởng với những câu chuyện kể về xưa và nay làm cho độ hưng phấn của chúng tôi càng lên cao hơn.

Tuy đã ở tuổi "cổ lai hy" nhưng chủ nhân vẫn rất nhanh nhẹn và nhiệt tình hướng dẫn - ảnh Hoàng Hoa Quế
Chúng tôi được “mắt thấy tay sờ” các cây thị cao hàng chục mét, đường kính có cây đến gần 3m. Nhiều cây đã mục rỗng ruột bên trong nhưng bên ngoài vẫn còn biểu hiện sức sống khỏe khoắn của các đại thụ.
Cây thị (Diospyros decandra Lour) thuộc họ thị (ebenaccae) rất gần gũi với chúng ta, được trồng rải rác trong các vườn gia đình, nhất là ở đình chùa, miếu mạo để lấy quả. Theo kinh nghiệm dân gian, hầu hết các bộ phận của cây thị đều được dùng làm thuốc chữa bệnh rất tốt. Chắc không phải chỉ là tự nhiên mà tác giả vô danh của chuyện Tấm Cám cho cô Tấm từ trong quả thị chui ra. Người cô gái ấy chắc phải thơm lắm, vì quả thị có màu đẹp thế, da thịt căng thế, hương thị thơm thế. Nếu không thì sao cô Tấm không chui ra từ quả mít, quả na, quả sầu riêng, quả bứa thật chua, quả dừa toàn nước...?
Qua lời giới thiệu của chủ nhân vườn thị, chúng tôi biết được “tính nết” của từng cây cây: cây thì quả to như quả cam, cây thì quả nhỏ nhưng thịt thơm ngọt và không có hạt(?), 5 cây thị cổ nhất trong vườn này có tuổi khoảng 600 năm(?). Cụ kể rằng (theo cuốn gia phả họ Lê Văn) vào thế kỷ 16, Lê Văn Hoan, một người con của dòng họ này, theo nghĩa quân Tây Sơn và được phong tướng quân; khi hành quân ra Bắc đánh nhà Trịnh, ông đã cho đại quân dừng chân ở vùng đất thiêng này, cho cột đàn voi chiến dưới những gốc cây thị cổ thụ và sai người lập đền thờ bên cạnh cây lớn nhất. Rồi những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, hàng chục, hàng trăm lượt đơn vị bộ đội đã trú quân dưới những gốc thị già trước khi hành quân vào Nam chiến đấu.
Điều thật ngạc nhiên là mặc dầu nơi đây là trọng điểm ném bom, bắn phá của máy bay Mỹ, vùng đất này đã gánh chịu hàng chục tấn bom đạn, không một tấc đất nào nơi đây không bị cày xới, nhà thờ họ Lê Văn (ở trong vườn) đã bị bom đạn làm cháy, nhưng 5 cây thị không hề bị trúng quả bom nào.
Năm tháng qua đi, những cây thị giờ đã già lắm rồi, nhưng nhựa sống vẫn tràn trề, hàng năm cây vẫn đâm chồi nảy lộc, đơm hoa kết trái. Tuy nhiên những áp lực đè nặng lên những cây thị cổ này là mối, mục phá hại và biết đâu một ngày nào đó nó bị... bán mất đi???
Vì vậy theo tôi 5 cây thị cổ này cần được xác định giá trị và có chiến lược bảo tồn. Về giá trị của nó thể hiện ở các mặt sau đây:
Thứ nhất là giá trị về sinh thái:
Với tán hình ô, xòe rộng hàng chục mét, các cây thị đã tạo nên độ khép tán gần kín toàn bộ khu vườn hàng ngàn m2 tạo nên bóng mát xanh trong lành, nếu được đầu tư để kinh doanh kiểu du lịch sinh thái thì chắc chắn nơi đây sẽ là điểm nhấn trong hệ thống du lịch sinh thái của Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung.

Giữ được cây cổ thụ như thế này ở trong vườn là một kỳ công của dòng họ Lê Văn -ảnh HHQ
Thứ hai là giá trị về tâm linh:
Đối với người Việt, cây cối là loại sinh thể đặc biệt, có đời sống trực giác tâm linh y như con người; có năng lượng phát ra và tương tác được với năng lượng của con người. Vì vậy, cây cối được người Việt sử dụng trong phép điều hòa môi trường sống (phong thủy) như là những nội dung chủ đạo (cùng đá, nước, núi, phương hướng..). Mặt khác, cây còn được coi là nơi trú ngụ của các vị thần linh hay ma quỷ. Dân gian người Việt có câu: "Cây thị có ma, cây đa có thần". Những cây cổ thụ thường được nhân dân thắp hương, lập miếu thờ cúng.
Tục thờ cây của nhân dân Việt Nam - ảnh Tăng Văn Tân
Thứ ba là giá trị về lịch sử:
Vườn thị này đã “chứng kiến” nhiều sự kiện lịch sử của nước nhà như: là nơi dừng chân của nghĩa quân Tây sơn trên đường tiến quân ra Bắc???. Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ là nơi dừng quân của các đơn vị bộ đội trước khi vào Nam. Nơi đây còn là căn cứ chỉ huy chiến đấu của tỉnh đội Nghệ An (ông còn chỉ cho chúng tôi xem chỗ đào hầm chữ A dưới gốc cây, chỗ cây mục dùng để nhốt các chiến sĩ vi phạm kỉ luật)
Thứ tư là giá trị về nghiên cứu khoa học:
Trải qua 600 năm, các cây thị đã ghi lại dấu ấn của những biến động về thời tiết, bức tranh về thời tiết được “ghi” lại trong từng thớ gỗ. Các nhà khoa học có thể “giải mã” về sinh trưởng của cây qua các thời kỳ...
Thứ năm là giá trị về kinh tế:
Mỗi năm vườn thị này cho hàng tấn quả. Quả thị có vị ngọt, thơm nên được người dân mua về thưởng thức. Mùa quả chín rộ vào tháng 7 âm lịch hàng năm lại trùng với mùa du lịch nghỉ mát Cửa Lò, nhiều đoàn khách biết được đây là những cây thị cổ nên đã đặt mua hàng ngàn quả. Điều lạ kỳ mà chúng tôi nhận thấy là lúc này đã vào mùa đông mà vẫn có cây cho quả trĩu cành. Biết chúng tôi có ý định xin hái quả làm kỉ niệm, ông thoăn thoắt leo lên và hái cho chúng tôi hàng chục quả.
Theo lời ông, có “đại gia” đến trả 5 cây thị cổ này 2,5 tỉ VND nhưng ông vẫn từ chối. Ông nói, ông muốn giữ lại cho gia đình, cho quê hương một món quà vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng và tổ tiên đã có công giữ gìn.
Vào mùa đông mà cây vẫn cho trĩu quả - ảnh Hoàng Hà
Chúng tôi ra về nhưng vẫn còn lưu luyến mãi, lưu luyến không chỉ vì sức sống diệu kì của các cây thị cổ mà còn vì sự nhiệt tình của chủ nhân. Hiện nay, chiến tranh đã đi qua, nhưng liệu các cây thị cổ này có còn lưu giữ được trong cơ chế kinh tế thị trường hay không? được biết hiện nay 2 trong 5 cây đã có bị mục rỗng, lại bị mối đất tấn công, mặt khác đã có người muốn mua đào đi nơi khác.
Đã đến lúc các các cơ quan chức năng cần phải xác minh cụ thể về niên đại, giá trị và có giải pháp bảo tồn vườn thị có một không hai này./.
11/2009
Thứ Ba, 28 tháng 7, 2009
LIÊM HỒ ĐẰNG - một loài cây dây leo đẹp, lạ?
Dưới đây là hình ảnh cùng bài viết của thầy giáo Đỗ Xuân Cẩm (Giảng viên ĐHNL nay đã về hưu hiện đang ở Huế).
Trong thời gian gần đây, một loài dây leo mới xuất hiện nhiều nơi, rất được người trồng ưa chuộng không do màu hoa sặc sỡ, cũng không do dạng lá đẹp hay thân lạ, mà là do hệ thống rễ bất định mọc ở các nách lá chạy dọc suốt thân cành của nó. Những rễ này buông thõng mềm mại, màu hồng thắm khi còn non rồi chuyển qua vàng xám khi già dần.
Khi được trồng cho leo vắt ngang thẳng tấp theo ban-công nhà hoặc leo trải rộng trên mặt giàn, các rễ lần lượt buông thõng xuống, thân cành vươn đến đâu, rễ lại buông đến đấy, tạo thành một bức rèm trông rất đẹp mắt.
Loài cây này thuộc chi thực vật Cissus, là một chi có nhiều loài mọc hoang dại ở Việt Nam, được nhiều người gọi là chi "hồ đằng" với nhiều loài hồ đằng khác nhau. Qua tìm hiểu, chúng tôi biết được đây là một loài nhập nội, nhưng chẳng biết nhập từ bao giờ và cũng chẳng tìm ra một tên tiếng Việt cho nó, hỏi người trồng thì họ chỉ trả lời là không biết tên gì, thấy đẹp thì xin giống về trồng chơi thôi. Vì thế, chúng tôi nghĩ rằng cần có một tên gọi cho nó sao để vừa nói lên mối quan hệ thân thuộc với các cây hồ đằng ở Việt Nam, vừa thể hiện đặc điểm độc đáo là nó có bộ rễ tạo thành bức rèm uyển chuyển, và chúng tôi tạm gọi nó là "liêm hồ đằng" (hồ đằng rèm).
Liêm hồ đằng có tên khoa học là Cissus verticillata, tên đồng nghĩa là Cissus sicyoides thuộc họ nho (Vitaceae), tên tiếng Anh là Princesvine, là loài phân bố tự nhiên ở nhiều vùng của Châu Mỹ, từ Bắc Mỹ (Florida, Northern Mexico) cho đến Trung và Nam Mỹ (Costa Rica, El Salvador, Guatemala, Nicaragua, Panama, Colombia, Ecuador, Peru…).
Cây có lá hình tim, đậm màu, leo nhờ tua cuốn ở nách lá. Hoa mọc thành hoa tự xim, tập hợp nhiều hoa nhỏ, màu vàng sữa. Cây ít rụng lá, hoa rụng không gây bẩn, lại có bộ rễ đẹp nên rất thích hợp với việc trồng tôn tạo cho tiền sảnh tư thất, đền chùa, công sở… Ở Miền Trung do thời tiết mùa hè rất oi bức, ánh nắng chói chang, trước hiên nhà có được bức rèm thực vật như thế theo chúng tôi là rất lý tưởng, nó giúp làm dịu ánh sáng chói khi nhìn từ trong nhà ra ngoài và cũng hạn chế những cái nhìn vô cớ của những người qua lại vào cảnh nhà đang sinh hoạt riêng tư. Để tạo cho bức rèm rễ có độ thưa đều và có chiều cao đúng tầm theo ý muốn, người trồng dùng kéo để tỉa thưa và cắt bằng phần chóp rễ. Từ vết cắt nhiều rễ con lại mọc ra rồi rủ xuống theo chiều trọng lực, càng tăng vẻ đẹp tự nhiên của nó. Đặc biệt vào những sáng sớm mùa hè, các đầu mút rễ đọng những giọt nước, lấp lánh ánh sáng trông rất huyền ảo.
Ngoài tác dụng làm cảnh, cây liêm hồ đằng còn có nhiều tác dụng dược học đáng lưu ý. Toàn thân cây từ lá, thân đến rễ đều có tác dụng lợi tiểu, điều kinh, long đàm, chữa trị được nhiều bệnh khác nhau như bỏng nắng hay bỏng nước sôi, ung loét da, da thâm tím, phù chân, tê thấp, cúm, đau lưng, mẩn ngứa, trĩ, hoại thư…
Cây rất dễ trồng. Muốn nhân giống chỉ cần chọn phần thân bánh tẻ (không quá non hay quá già), cắt hết lá, chỉ chừa một phần cuống, cắt thành từng đoạn có từ hai đến ba mắt lá để làm hom. Tốt nhất nên dùng bao polyetylen để tạo những túi bầu, ruột túi bầu là đất tơi xốp trộn cát sạch (2 phần đất, 1 phần cát). Cho đất vào đầy túi, vừa cho vào vừa thổ đáy bầu để đất bầu được nén tự nhiên. Sắp những túi bầu ở một chỗ bằng phẳng không trũng nước, dùng vòi sen hay bình bơm nhựa bơm tưới cho đẫm túi bầu. Dùng một chiếc đũa tre thọc một lỗ chính giữa ruột bầu, đặt chân hom vào lỗ và lấp nhẹ đất lại. Che nắng và theo dõi để tưới nước bổ sung sao chỉ vừa đủ ẩm. Sau một thời gian, các chồi nách phát triển thành cành mới thì đem túi bầu đi trồng.
(Ai cần giống mạnh dạn cầm máy alô cho Tân nhé, dễ sống như khoai luôn)
.
Thứ Ba, 7 tháng 7, 2009
KÝ SỰ VỀ MỘT CHUYẾN ĐI
Sau khoảng 30 phút đi ô tô, chúng tôi đã có mặt tại điểm dừng chân quen thuộc của các du khách trong tour du lịch sinh thái. Đoạn đường 20 km xuyên rừng dường như ngắn lại bởi những câu chuyện bên lề của người hướng dẫn vui tính: nào là chó hết xăng, nào là sự tích Con Cu-ông, rồi đến nước mắt của người vợ và người chồng đã tạo nên dòng thác Kèm… Tạm biệt chiếc ghế xe, chỉnh đốn đội hình, duy tu nhan sắc, bách bộ được khoảng 300m, trước mắt chúng tôi hiện ra một bức tranh sơn thuỷ kèm theo bản nhạc du dương của núi rừng: "thác Kèm"! Nước từ trên cao đổ mạnh xuống qua ba thang bậc, tung bọt trắng xoá, dòng thác như một dải lụa trắng trên nền xanh của núi rừng, như mái tóc mềm mại của cô tiên đã xuống trần giới (và cô đã nằm lại đây muôn đời cho lũ trẻ ngày ngày tới đây hưởng bầu không khí mát mẻ).
Đây là con thác đẹp vào loại nhất Nghệ An có độ cao khoảng hơn 150 mét, quanh năm nước chảy. Dưới chân thác là khe nước dài với những phiến đá phẳng lỳ như những chiếc bàn lớn làm chỗ nghỉ chân cho lũ chúng tôi. Nếu chưa được tắm ở thác Kèm thì sự sung sướng của chuyến đi chưa lên tới tột đỉnh! Để dòng nước cao vút mát xa vào các ngõ ngách của cơ thể thì không có lời nào để mô tả cảm giác được! Cho dù đây là lần thứ ba tôi tắm ở đây, nhưng lần này tắm dưới trời mưa lất phất, hay! Buổi trưa lũ trẻ được thưởng thức món cơm lam, gà đen chân trắng nướng - tuyệt! Tuy nhiên hôm nay thiếu món mọc cá (đặc sản của người Thái ở đây - với hương vị quyến rũ, nó như thể muốn quấn ghì chặt lấy các du khách để du khách không thể quên được câu tiếng anh bập bẹ: "xi - diu - ờ - ghên"!!!)
.
Quay trở ra QL7A, ngược hướng nước bạn Lào, thăm bến đò Chôm Lôm hôm nào (xã Lạng Khê) chúng tôi ngậm ngùi nhớ đến trận lũ năm nào đã cướp đi sinh mạng của 19 học sinh miền rừng núi. Giờ đây chiếc cầu treo Chôm Lôm đã nối hai bờ sông Cả thách thức dòng nước cuồn cuộn dưới kia cho các em cắp sách đến trường, cho hàng hoá được giao thương buôn bán, cho tình yêu được nảy nở sinh sôi .... Nhưng còn biết bao nhiêu con đò ngang phải oằn mình gánh những con người trong cảnh mưa lũ? Số tiền mà chúng tôi đã quyên góp để xây cầu rất nhỏ nhoi nhưng thật có ý nghĩa biết bao, và sẽ ý nghĩa hơn nếu có những nhà hảo tâm đóng góp để những người lái đò bất đắc dĩ trên những con sông tử thần "được" thất nghiệp.
Nhờ cây cầu mà văn minh hai bờ được rút ngắn - ảnh Quốc Sơn
Rừng này mà ở Vinh thì tha hồ chụp! - ảnh Công Trường
Bắt cá sông Giăng - ảnh Quỳnh Anh
Nụ cười sau khi đã leo lên hết "chín bậc tình yêu" ở bản Cò Pạt - ảnh Quỳnh Anh
Vào đến bản Cò Pạt, chúng tôi vẫn chưa thể hình dung ra cách học và dạy ở nơi đây, không hình dung ra cách giao tiếp với xã hội bên ngoài của một dân tộc còn vẻn vẹn 3000 người chỉ có ở Nghệ An (có tài lệu cho rằng đây không phải là dân tộc thiểu số mà là dân tộc Kinh???). Với những khó khăn về đường xá đi cách sông, cách đò, lại nằm trong lõi rừng nguyên sinh Pù Mát với lối sống, suy nghĩ của một dân tộc "trốn chạy", vẫn còn đây phong tục "ngủ ngồi" để phòng tránh thú dữ. Đã nhiều năm dân Đan Lai sống cuộc sống hoang biệt, kết hôn cận huyết từ khi còn bé, không đăng ký kết hôn, sinh đẻ tự nhiên đến bao giờ hết khả năng thì mới thôi, canh tác thì lạc hậu, sống chủ yếu dựa vào rừng và săn bắn hái lượm. Họ cần phải được bảo tồn và phát triển để theo kịp với các dân tộc khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
.
Nơi đây chưa thể áp dụng phương pháp dạy học hiện đại được! - ảnh Anh Tài
Đập thuỷ lợi Phà Lài, công trình dân sinh ở xã Môn Sơn - ảnh Quỳnh Anh
Ra đến đập Phà Lài, ngồi nhâm nhi với chén rượu nếp của cánh đồng Mường Quạ, mồi nhắm là cá mát sông Giăng, nghe những câu chuyện lịch sử: đó là việc thành lập chi bộ Đảng miền núi đầu tiên thuộc dân tộc ít người ở di tích Cây đa Cồn Chùa (rất tiếc là cây đa đã bị trận lũ lịch sử năm 2002 làm đổ chết), nghe chiến tích đánh thắng giặc Minh “trúc chẻ tro bay” ở miền Trà Lân, hay còn đó hang ông Trạng - nơi hơn 600 năm trước, trạng Bùng Phùng Khắc Khoan bị lưu đày... Đến những câu chuyện thời sự nóng hổi của bà chủ quán: Đập này khi xây sâu 15m (năm 2002) nhưng mới đây có đoàn khảo sát vào đo chỉ còn 8 m (như vậy là một năm bồi lắng đến 1 m!) suy rộng ra (theo thuyết tứ đoạn luận!) nếu không có chiến lược bảo tồn thì đến năm 2017 sẽ không còn lòng đập nữa!!!).
Rừng ơi, hẹn ngày tái ngộ - ảnh Văn Tân
Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2009
KIẾP LUÂN HỒI CỦA LÁ
Ngày xưa có một chàng trai rất nghèo, anh ta nghèo đến nỗi không có nổi tiền để cưới cho mình một cô vợ. Khao khát tình yêu và hạnh phúc, anh âm thầm ra đồng lấy đất sét nhào nặn hình hài một người con gái để làm người yêu cho mình. Đi đâu anh cũng mang theo cô gái bằng đất sét trên vai. Nữ thần tình yêu thương chàng trai tội nghiệp, nên quyết định giúp đỡ. Nữ thần đã thổi sức sống vào tượng đất, biến tượng đất thành một cô gái xinh đẹp. Nhưng cô gái của chàng không hề biết cười đùa, mà cứ ủ rủ âu sầu. còn chàng tai thì vụng về, chỉ biết ôm nàng trên đôi tay lực lưỡng của mình, mà không biết làm thế nào cho nàng cười được cả. Lúc đó thần gió đi qua, nhìn thấy được cảnh tượng đó, đã ghé vào tai cô gái thì thầm mấy lời rất khẽ. Nghe lời thì thầm của gió, bỗng dưng đôi mắt cô long lanh, cô nhoẻn miệng cười, rồi cất tiếng hát. Có gió đệm đàn, cô càng hát say sưa. Tiếng đàn và tiếng hát của lá với gió làm say đắm cả mùa xuân, rồi mùa hạ. Cả chim chóc, hoa bướm cũng đua nhau tìm về để ca múa vui chơi. Cô và gió thực sự đã tạo nên vũ điệu cho muôn loài. Nhưng cũng từ đó cô quên chàng trai. Chàng đau buồn và than thở với gió :- Gió ơi ! Cô gái là của ta, xin gió hãy đi đi.
Gió đáp :
- Anh chỉ sinh ra phần thân thể của cô gái thôi, còn ta mới là kẻ tạo nên tâm hồn cô gái. Thử hỏi cô gái trên tay anh bao lâu có biết cười biết hát hay không ?
Nghe gió nói thế, chàng trai biết mình thua thiệt. Người con gái của chàng giờ đã yêu gió mất rồi. Còn cô gái thì nghĩ, chàng trai cục mịch lạnh lùng, lại không biết mơn man yêu chiều cô như gió. Cô say sưa với tiếng đàn của gió mà quên đi chàng trai vẫn mải đợi chờ cô. Hết mùa xuân, rồi hết mùa hạ. gió không còn là gió nhẹ nhàng mà dữ dội cuồng điên. Cô bắt đầu cảm thấy mệt mỏi ê chề khi gió không bao giờ chịu yên để cô được nghỉ ngơi. Vào một ngày đầu thu, lá chợt giật mình thấy màu áo của mình vàng úa. Cô không còn đủ sức lực để nhiệt tình với gió, còn gió thì trách hờn nghĩ rằng cô muốn quay về với chàng trai, nên trút hờn ghen vào những phím đàn khiến cho nó trở nên gào thét chứ không còn là lời thì thầm nữa. Và cô đã chết trước khi mùa đông đến. chàng trai cô đơn và đau khổ một mình ngồi với đống đất sét nhào nặn hình hài người yêu trong mùa đông giá rét; Và chàng lại được nữ thần tình yêu ủng hộ biến thành cô gái, nhưng vụng về chàng lại bị gió cướp đi. Hết mùa đông này đến mùa đông khác, chàng nặn được bao nhiêu cô gái đều bị gió cướp đi bấy nhiêu, nên hễ đến mùa đông là lại thành kẻ cô đơn. Nữ thần mùa xuân thấy thế, động lòng trắc ẩn đã biến chàng thành một thân cây, và để cho cô gái được luân hồi thành kiếp lá trên cành cây…
====================
Tâm sự của cây
Cây than thở gió ơi đừng rung lá
Lá là của cây sao gió cứ dỡn hoài
Gió cười cười bí ẩn đáp cùng cây
Rằng tại lá muốn nghe lời của gió
Gió nói rằng cây chỉ sinh xác lá
Nhưng tâm hồn do nắng gió tạo nên
Cây sinh lá nhưng khô cứng lạnh lùng
Gió không về lá buồn im không hát
Nghe gió nói cây biết mình thua thiệt
Đành âm thầm dấu kín niềm yêu
Lá vô tư nghe lời gió phiêu diêu
Say ca hát suốt mùa xuân, mùa hạ
Rồi chợt nhận ra áo mình vàng úa
Lá giật mình thôi đã hết tươi xanh
Gió hết nhẹ nhàng, thổi sang khúc cuồng điên
Làm giông bão quật lá vàng tơi tả
Mùa đông đến cây âm thầm trong lạnh giá
Đứng một mình thương nhớ lá khôn nguôi
Nữ thần mùa xuân hiểu nổi khổ thân cây
Nên để lá được luân hồi kiếp lá
Mùa xuân sang lộc trẩy đầy cành tía
Lá xanh mơn man gió lại tìm về
Hỡi lá ơi ! xin lá nghĩ lại đi
Cây yêu lá, chỉ vụng về không biết nói.
Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2009
HOA GẠO
Anh như người khách lạ tới vãng laị
Theo ghi chép trong lịch sử Trung Quốc thì vua Nam Việt là Triệu Đà đã tặng một cây gạo cho vua của nhà Hán vào thế kỷ 2 TCN, từ đó Trung quốc mới có hoa gạo
======================
Ở các vùng đồng bằng miến Bắc nước ta, đầu làng thuờng có trồng cây đa và cây gạo. Theo quan niệm của dân làng, trồng cây đa để đón thần linh về phù hộ cho dân làng, còn trồng cây gạo thì ma làng sẽ về để bảo vệ làng mình khỏi bị các làng khác tranh chấp. Vào độ cuối những ngày rét, cây gạo bắt đầu trút lá, khi chỉ còn trơ trọi những cành cây khẳng khiu thì những nụ hoa bắt đầu nhú. Hoa gạo rơi là cả một trời thơ mộng, có lẽ nhờ vậy mà với trẻ con thì bất chấp cả “ma cây gạo” vẫn cứ ham hố những trò chơi với hoa gạo. Thiếu nữ thả hoa gạo xuống dòng sông xanh để uớc mơ cho mình gặp được người anh hùng; vô tư hơn, đám trẻ con nhặt hoa gạo thổi tung lại lên trời để làm chong chóng…
==============
3. Đẹp đẽ thơ mộng là vậy, nhưng người đời còn biết đến cây gạo với giá trị làm thuốc của nó:
Theo dược học cổ truyền, vỏ cây gạo vị cay, tính bình, có công dụng thanh nhiệt, hoạt huyết, tiêu thũng, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như viêm loét dạ dày, đi lỏng, kiết lỵ, đau khớp cổ chân và khớp gối, viêm loét ngoài da, chấn thương do trật đả...Hoa gạo vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, chỉ huyết, thường dùng để trị đi lỏng, kiết lỵ, băng huyết, viêm loét, nhọt độc, xuất huyết do chấn thương...Rễ gạo vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, cầm máu, se vết thương, thường được dùng để chữa viêm loét dạ dày, kiết lỵ phân có máu, lao hạch, sưng vú sau khi sinh con, tổn thương do trật đả.
Một số bài thuốc:
- Viêm khí phế quản cấp tính: Rễ gạo 30 g sắc uống.
- Ho khạc nhiều đờm do phế nhiệt: Hoa gạo 15 g, ngư tinh thảo (rau diếp cá) 15 g, tang bạch bì 10 g, sắc uống.
- Nôn ra máu: Hoa gạo 14 bông, thịt lợn nạc 100 g. Hoa gạo rửa sạch, thái nhỏ; thịt lợn thái miếng. Hai thứ nấu canh ăn.
- Ho ra máu: Hoa gạo 14 bông sắc kỹ, chế thêm một chút đường phèn, chia uống vài lần trong ngày.
- Viêm loét dạ dày: Rễ, hoa hoặc vỏ thân cây gạo 15-30 g, sắc uống. Hoặc: Rễ, hoa hoặc vỏ thân cây gạo 30 g, rễ cây lưỡng diện châm (Zanthoxylum nitidum) 6 g, sắc uống.
- Lỵ trực khuẩn, viêm ruột và dạ dày cấp tính, đi lỏng, đại tiện ra máu: Hoa gạo 60 g, sắc kỹ, chế thêm một chút mật ong hoặc đường phèn, chia uống vài lần trong ngày. Hoặc: Hoa gạo 15 g, kim ngân hoa 15 g, phượng vĩ thảo (cỏ seo gà) 15 g, sắc uống. Hoặc: Hoa gạo 15-30 g sắc kỹ, chia uống 3 lần trong ngày.
- Sưng đau vú sau khi sinh con: Hạt cây gạo 10 g, sao vàng sắc uống.
- Trẻ em sốt cao vào mùa hè: Hoa gạo 6 g, sắc kỹ, chế thêm chút đường phèn, chia uống vài lần trong ngày.
- Viêm khớp mạn tính, đau lưng và đau gối mạn tính: Rễ gạo 30-60 g, sắc hoặc ngâm rượu uống. Hoặc: Vỏ thân cây gạo 15 g, sắc kỹ, bỏ bã, chế thêm một chút rượu vang, chia uống 2 lần trong ngày.
- Tiểu tiện không thông: Chất gôm cây gạo 10 g, kim ngân dây 20 g, hạ khô thảo 20 g, sắc với 750 ml nước, cô còn 300 ml, chia uống 3 lần trong ngày.
- Sưng nề do chấn thương: Vỏ thân hoặc rễ cây gạo ngâm rượu xoa ngoài hoặc giã nát đắp vào vị trí tổn thương. Hoặc: Vỏ thân cây gạo 100 g, củ nghệ vàng già 100 g. Vỏ gạo cạo bỏ vỏ bẩn ở ngoài, băm nhỏ, giã nát với nghệ thái mỏng, dùng dấm thanh và rượu cho vào sao rồi chườm hoặc đắp vào vết thương khi còn nóng.
- Ngứa vùng hậu môn sinh dục: Vỏ thân cây gạo sắc lấy nước ngâm rửa nơi bị bệnh.
- Trĩ xuất huyết: Hoa gạo 20 g, quyển bá 10 g, hòe hoa 15 g, sắc uống.
- Bong gân: Vỏ cây gạo 16 g (cạo bỏ vỏ ngoài, sao rượu), lá lốt 16 g (sao vàng), sắc với 750 ml nước, cô còn 250 ml, chia uống 2 lần trong ngày. Hoặc: Rau má tươi, vỏ thân cây gạo tươi, vòi voi tươi và bồ công anh tươi, bốn thứ lượng bằng nhau, rửa sạch, giã nát, bó vào nơi bị bệnh.
- Gãy xương: Sau khi nắn chỉnh ổ gãy, dùng vỏ rễ cây gạo tươi rửa sạch, giã nát, bó vào vị trí gãy xương, 2 ngày thay 1 lần.
(theo ThS Hoàng Khánh Toàn, Sức Khỏe & Đời Sống)
Thứ Tư, 17 tháng 6, 2009
Sự nguy hiểm mang tên “trúc đào”
Có lẽ bị cuốn hút vì màu hoa đỏ đẹp đến nao lòng của cây trúc đào mà người dân cả nước đã quên đi đây là một loại cây cực độc.
Tại TPHCM, cây trúc đào đã đứng đầu trong danh mục các loại cây cực độc mà UBNDTP cấm trồng. Ở TP Vinh cây trúc đào được trồng trên đại lộ Lê Nin và một số công viên, nhiều cây đang nở hoa đỏ rực, trời nắng nóng nên nhiều người đi đường tranh thủ nép dưới tán cây vừa cho mát, vừa được nhìn hoa đẹp đồng thời hái hoa bẻ cành.
Theo tài liệu khoa học, trẻ em chỉ cần ăn phải một lá cây trúc đào có thể dẫn tới tử vong. BS Nguyễn Thị Anh Đào, Bệnh viện ĐHY dược TPHCM cho biết: Khoa Cấp cứu của bệnh viện này cũng đã cấp cứu nhiều trường hợp bệnh nhân bị ngộ độc do mủ hoa cây trúc đào. Tuy nhiên, do các trường hợp đều chuyển đến kịp thời nên hậu quả không nghiêm trọng.
Theo Y học, mọi phần trên cây trúc đào đều độc. Không cần phải dính mủ trúc đào mà chỉ cần vô tình hít phải khói từ cây trúc đào bị đốt cũng gây ra vấn đề. Rắc rối cũng xảy ra khi sử dụng cành cây để xỉa răng hoặc uống nguồn nước mà các bông hoa đã rụng xuống... Ngộ độc và các phản ứng đối với trúc đào rất là nhanh, đòi hỏi phải có sự chăm sóc y tế ngay lập tức khi nghi ngờ (hoặc đã biết) là ngộ độc trúc đào ở cả người lẫn động vật.
Lương y Đinh Công Bảy, tổng thư ký Hội Dược liệu TPHCM cho hay: Cây trúc đào, đào lê, tên khoa học Nerium Oleander L, thuộc họ trúc đào (Apocynaceae). Trong các bộ phận của cây đều chứa chất nhựa màu kem, vàng ngà rồi hóa lục. Trong nhựa này có các glucosid độc, chủ yếu là oleandrin (còn gọi là neriolin) với tỷ lệ 0,7 - 1 phần nghìn. Đây là chất có tác dụng mạnh đối với tim, nếu dùng đúng liều quy định thì có tác dụng trợ tim, nếu dùng quá liều thì sẽ ngộ độc.
Sau khi chất độc vào cơ thể sẽ gây ra các triệu chứng: Nôn mửa dữ dội, sau đó người mệt lả không muốn nói năng cử động gì, có khi nhức đầu, chóng mặt đau bụng. Ngộ độc nặng hơn thì có thể trụy tim, tụt huyết áp, hôn mê rối loạn nhịp tim. Ngộ độc quá nặng sẽ dần dần thiếu ôxy lên não. Nếu không xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.
Không ai cảnh báo
Một thực tế là người dân rất vô tư với những bụi cây trúc đào được trồng mọi nơi, thản nhiên bẻ hoa tặng cho con, tặng bạn. Trong công viên một đôi bạn trẻ đi dạo, người bạn trai thản nhiên hái hoa tặng cho bạn gái, hỏi anh ta sao lại tặng hoa độc cho bạn mình anh ta hồn nhiên: “Cây này mà độc người ta đã không làm thơ, làm nhạc ca ngợi nó. Thật sự nếu có độc thì độc tố nằm ở đâu, chứ không có nằm ở hoa đâu!”.
Đã đến lúc các nhà chức trách cần phải cảnh báo khả năng gây độc của loài cây này, chỉ cần vài lá của nó cũng đủ giết người. Ở các nước khác, cây này bị cấm đưa vào trồng ở khu vực công cộng...
Lưu ý, chất độc của cây trúc đào không bị phá hủy khi đun sôi hoặc qua quá trình phơi khô sấy. Không trồng trúc đào ở cạnh nguồn nước (giếng ăn, bể nước...) vì lá, hoa trúc đào rụng xuống làm nhiễm độc nước. (Lương y Đinh Công Bảy - Tổng thư ký Hội Dược liệu TPHCM)
Thứ Ba, 16 tháng 6, 2009
Gió lào - một "đặc sản" xứ Nghệ

Gió Lào đâu chỉ có ở Nghệ An. Đây là một hiện tượng thời tiết đặc biệt của Việt Nam nói chung và miền Trung nói riêng. Đây là một cách đặt tên cho gió theo tên địa phương nơi xảy ra hiện tượng. Theo các nhà chuyên môn, đây là gió phơn Tây Nam khô nóng được hình thành từ Vịnh Thái Lan, di chuyển theo hướng Tây Nam - Đông Bắc qua Camphuchia và Lào, khi tiếp cận dãy Trường Sơn thì gió tăng tốc, vượt qua và tràn vào Việt Nam. Ấy vậy mà người dân Nghệ An lại được đóng đinh với luồng gió ngoại nhập này. Trong các bài viết, hay đề tài về người Nghệ, tính cách Nghệ người ta đổ lỗi một phần là do khí hậu nắng khét mặt mưa ngập đầu, trong đó gió Lào đóng góp một phần không nhỏ. Thế nhưng từ ngọn gió Lào quạt lửa ấy bao nhiêu anh hùng giải phóng dân tộc đã sinh ra, bao nhiêu nhà khoa học đã thành danh, bao nhiêu hồn thơ đã cất cánh. Ngẫm lại cứ thấy nao nao trong lòng, cái cảm giác buồn, vui hay tủi tủi kiểu tự ti tôi không định hình được. Có một nhà thơ nào đó đã viết:
... Em mới về em chưa hiểu gì đâu
Gần đây, có một nhà khoa học đã nảy sinh ý tưởng “khống chế” gió Lào. Và cái ý tưởng tưởng chừng như là hão huyền, nói ra chỉ để gây sốc ấy lại đang là mục tiêu của một dự án khoa học đang trong giai đoạn chuẩn bị thực hiện. Ngọn gió khô nóng đặc trưng của mùa hè Nghệ An sẽ biến mất, nhường vào đó là khí hậu mát mẻ, ôn hoà lý tưởng như Sapa, Đà Lạt...PGS.TS Nguyễn Việt Cường, Giám đốc Trung tâm Vật liệu và Môi trường khắc nghiệt - Viện Cơ học Việt Nam, chủ nhân của dự án chế ngự gió Lào đã nắm được bản chất của gió Lào sở dĩ rất khô nóng vì đã trút hết hơi ẩm bên Lào, khi sang Việt Nam lại tăng nhiệt độ do đi qua vùng đồi trọc, núi đá. Những trận gió này làm khí hậu mùa hè ở vùng Bắc Trung bộ và nhất là Nghệ An trở nên cực kỳ khắc nghiệt, làm tăng chi phí sinh hoạt, giảm hiệu suất công việc và khiến các nhà đầu tư ngần ngại. Đó là những lý do để nhà khoa học làm biến mất gió Lào bằng cách tăng độ ẩm và giảm nhiệt độ trong không khí.
(theo Nguyễn Hồng )
Thứ Năm, 11 tháng 6, 2009
Cùng trao đổi: Trừ điểm câu sai trong thi trắc nghiệm - Nên hay không?
Hiện nay, thi trắc nghiệm đang được áp dụng nhiều trong các kỳ thi ở nước ta. Muốn đánh giá đúng năng lực của HSSV thì phải kết hợp nhiều khâu: ra đề, coi thi, chấm thi... Trong đó khâu chấm thi có ảnh hưởng không nhỏ. Để đánh giá chính xác kết quả làm bài của thí sinh cần phải xây dựng một thang đo phù hợp, mục tiêu cuối cùng là đánh giá đúng năng lực của thí sinh, giảm thiểu những sai lầm không mong muốn.Tính điểm trừ có nghĩa là mỗi lần thí sinh lựa chọn một câu trả lời sai thì họ sẽ bị trừ điểm. Tại sao lại tính điểm trừ?
Từ kỳ thi năm 2008, Cục khảo thí đã có dự định áp dụng việc trừ điểm nhưng có nhiều ý kiến khác nhau.
Phía phản đối cho rằng: ngăn ngừa hiện tượng đánh bừa của học sinh bằng cách trừ điểm trắc nghiệm câu sai, nhưng trong thực tế có nhiều học sinh chọn đáp án sai do tính toán sai hoặc nhận thức sai (nhầm lẫn), không hề đánh bừa cũng sẽ bị trừ điểm. Nếu đánh đồng học sinh đánh bừa và học sinh nhầm lẫn sẽ rất thiệt thòi cho các em. Việc làm này gây một tâm lý hoang mang cho các em trước mỗi kỳ thi. Mặt khác việc trừ điểm câu sai có thể sẽ làm cho việc chấm và tính toán kết quả bài thi phức tạp hơn nhiều.
Phía ủng hộ việc trừ điểm câu sai thì cho rằng: trừ điểm câu sai để hạn chế thí sinh không có kiến thức về câu ấy nhưng vẫn đánh bừa (và thực tế cho thấy hầu hết các bài trắc nghiệm đều được "làm xong"), và câu ấy học sinh vẫn có thể được điểm nếu "may mắn", vì vậy phải trừ điểm những câu kiểu "may mắn" này. Nếu việc trừ điểm là hợp lý, có công thức chuẩn thì cũng không ảnh hưởng tới sự công bằng giữa các học sinh. Bởi nếu bị trừ điểm, tất cả thí sinh đều bị trừ như nhau, thấp cùng thấp, cao cùng cao.
Xét tổng thể một bài thi, nếu không trừ điểm câu sai thì điểm bình quân của thí sinh sẽ cao hơn điểm thực chất của họ, việc "đậu nhầm" cũng chiếm tỉ lệ cao(1). Thực tế tại trường CĐKTKTNA, khi công bố môn thi trắc nghiệm thì hầu hết các HSSV đều vỗ tay, không phải vì làm bài trắc nghiệm không phải học hay kiến thức trắc nghiệm dễ hơn, mà vì họ nghĩ rằng không học cũng có thể kiếm được điểm(2), kiến thức ít nhưng cũng có thể đạt trung bình.
Ví dụ về không trừ điểm và có trừ điểm: Một đề thi có 100 câu hỏi chỉ với 2 lựa chọn đúng/sai, thì sẽ có xấp xỉ một nửa câu trả lời đúng, nửa còn lại sẽ là câu trả lời sai. Nếu dành 1 điểm cho câu trả lời đúng và 0 điểm cho câu trả lời sai thì kết quả cuối cùng sẽ là 50/100, chiếm 50%, đây là mức điểm đạt! Rõ ràng đây là tình huống không mong đợi. Vì vậy phải trừ điểm câu sai.
Cách trừ cho phù hợp: Nếu trừ điểm cho từng câu trả lời sai thì gây rối ren cho người chấm, đặc biệt là chấm thủ công, mặt khác làm cho tâm lý HSSV hoang mang. Để hạn chế những nhược điểm trên thì đánh giá kết quả toàn bài bằng cách cho điểm trên khoảng câu đúng, đây thực chất là hệ quả của phương pháp trừ điểm các câu sai(3). Vấn đề ở đây là phải xác định trừ câu sai với tỉ lệ điểm là bao nhiêu, tính toán theo công thức nào để từ đó xây dựng thang điểm trên khoảng câu trả lời đúng cho phù hợp (chúng tôi sẽ đề cập tới ở bài viết sau).
Muốn áp dụng phương thức nào cũng cần phải thận trọng cân nhắc kỹ càng và cần phải thông báo trước cho HSSV biết về phương thức ghi điểm và ý nghĩa của phương thức đó, đồng thời nên cảnh báo họ về việc bỏ qua một số câu hỏi.
Kết luận: Với trắc nghiệm hiện đại, được hỗ trợ bởi các phần mềm chấm trắc nghiệm đã làm cho việc chấm thi trắc nghiệm trở nên đơn giản và đạt được độ chính xác cao. Tuy nhiên đa số chúng ta đang áp dụng trắc nghiệm cổ điển, chưa phân biệt độ khó của câu hỏi để tính điểm riêng mà các câu hỏi có đồng điểm, bên cạnh đó việc chấm thi đang hoàn toàn thủ công. Do đó việc trừ điểm câu sai của HSSV là một việc cần phải làm để hạn chế những sai lầm trong đánh giá năng lực của HSSV. Tuy nhiên thực hiện theo phương thức nào để đảm bảo tính chính xác, khách quan, dễ dàng thực hiện và không gây tâm lý hoang mang lo lắng cho HSSV là vấn đề cần được cân nhắc và thực hiện đồng bộ.
(1),(2),(3) Xem: SKKN "Một vài phương pháp giảm xác suất sai lầm nâng cao độ tin cậy trong thi trắc nghiệm" của ThS. Nguyễn Thị Ngọc Dung - năm 2008
Thứ Hai, 8 tháng 6, 2009
Sông Mekong sẽ chết khô…?
Sự bất bình trước việc khai thác thô bạo thượng lưu Mekong bất chấp quyền lợi cộng đồng hạ lưu từng nhiều lần gây nên làn sóng phẫn nộ. "Tôi sẽ không bỏ cuộc và tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Gia đình tôi đã sống bên dòng sông này nhiều thế hệ. Nếu mấy người muốn xây đập, hãy đập nhà mình mà xây đi!" - phát biểu của bà Sompong Viengchan thuộc tỉnh Ubon Ratchathani (Bắc Thái Lan) tại Diễn đàn công cộng Mekong tổ chức tại Bangkok.Cuộc họp Ủy ban sông Mekong tại Vientiane (Lào) ngày 27/5 vừa qua một lần nữa lại nhấn mạnh việc xem xét thận trọng các dự án đập thủy điện trên sông Mekong. Witoon Permpongsachareon - Chủ tịch Nhóm bảo vệ môi trường TERRA (Towards Ecological Recovery & Regional Alliance; trụ sở Bangkok) - nói: "Những con đập là mối đe dọa lớn nhất đối với Mekong và sự trong sạch môi trường. Xây một con đập chẳng khác nào bóp kẹp một động mạch trên cơ thể. Nếu máu không lưu thông, hẳn nhiên cơ thể bị tổn thương". Ấy thế mà Mekong đang bị kẹp không chỉ bởi một mà nhiều nút thắt. Hạ lưu Mekong tiếp tục cạn.
Những nút thắt bóp nghẽn mạch máu Mekong
Vấn đề xây đập ồ ạt từ thượng lưu Mekong (thuộc Trung Quốc) làm ảnh hưởng nghiêm trọng khu vực hạ lưu từng trở thành đề tài nóng hổi vài năm nay. Bất chấp dư luận phản đối của các quốc gia hạ lưu Mekong, Trung Quốc vẫn tăng tốc "chiến dịch chặn dòng" nhằm thỏa mãn lợi ích riêng (nhu cầu điện).
Ngày 21/5/2009, Liên Hiệp Quốc (LHQ) một lần nữa khẳng định Trung Quốc đang là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với tương lai Mekong. 8 con đập trên dòng Mekong (gọi là Lan Thương tại nước này) chảy qua tỉnh Vân Nam, trong đó có đập Tiểu Loan (Xiowan) cao nhất thế giới (292m) với tổng dung tích tương đương tất cả hồ chứa nước Đông Nam Á cộng lại, đang tàn phá môi trường hạ lưu Mekong với mức độ khủng khiếp tăng dần.
"Kế hoạch cực kỳ tham vọng của Trung Quốc trong việc xây một thác nước khổng lồ gồm 8 con đập trên thượng lưu Mekong chảy qua những hẻm núi cao Vân Nam có lẽ là mối đe dọa lớn duy nhất đối với con sông" - báo cáo LHQ viết. Báo cáo cũng cho biết ảnh hưởng từ cơn sốt xây đập "điên rồ" từ Trung Quốc gồm "những thay đổi dòng chảy và thời gian thủy triều, sự xuống cấp chất lượng nguồn nước và sự mất mát tính đa dạng sinh học". Cần biết, Mekong chảy qua Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, với hệ thống sông phụ bao phủ diện tích 795.000km2, là nơi “định cư” của vô số động thực vật quý hiếm cũng như là nguồn sống cho 65 triệu người dân ở lưu vực.

Với hơn 85.000 con đập (còn tiếp tục xây), Trung Quốc có thể "tự hào" là quốc gia số 1 thế giới về công trình đập thủy điện (trước năm 1949, Trung Quốc chỉ có 22 đập). Từ con đập cao nhất thế giới, to nhất thế giới, dung tích chứa nhiều nhất thế giới, đến khả năng sản xuất điện nhiều nhất thế giới... tất cả đều có ở Trung Quốc. Trong khi đó, các con sông thuộc Trung Quốc lại gần như chẳng giúp được gì.
Cần mở ngoặc, dù 1,3 tỉ dân Trung Quốc chiếm đến 1/5 dân số thế giới nhưng Trung Quốc chỉ được xếp thứ 15 về nguồn nước ngọt. Hơn nữa, 5 trong 7 con sông chính của Trung Quốc lại bị ô nhiễm nghiêm trọng đến mức hiện có đến 300 triệu dân Trung Quốc không được tiếp cận nguồn nước sạch.
Mối đe dọa hiển hiện đối với hạ lưu Mekong là con đập "khủng long" Tiểu Loan vừa hoàn thành giai đoạn đầu. Khi hoàn chỉnh (vận hành đồng bộ vào năm 2013), Tiểu Loan tạo ra một hồ chứa nước khổng lồ với 15 tỉ m3 trên diện tích hơn 190km2. Ít người biết rằng, người đứng đầu công ty trúng thầu xây Tiểu Loan cũng như nhiều con đập tại Trung Quốc (Hoa Năng quốc tế điện lực khống cổ hữu hạn công ty) là Lý Tiểu Bằng, con trai cả của cựu Thủ tướng Lý Bằng!
Tất cả sẽ "thay đổi toàn bộ sự cân bằng sinh thái của con sông" - theo Aviva Imhof, Giám đốc chiến dịch thuộc Tổ chức Mạng sông ngòi quốc tế (International Rivers Network) - "Cư dân hạ lưu Mekong phụ thuộc nguồn cá cung cấp 80% protein cho họ. Chúng tôi đang chứng kiến sự "sụp đổ" tiềm tàng trong chế độ dinh dưỡng khu vực này nếu ảnh hưởng của nó tệ như chúng tôi dự báo".
Vào mùa khô, thượng lưu Mekong chiếm hơn 60% dung tích con sông. Một khi nguồn nước này bị cắt, hạn hán tại hạ lưu chắc chắn xảy ra. Trong khi đó, vào mùa mưa, sự xả nước đột ngột từ hồ Tiểu Loan sẽ tạo ra những trận lụt kinh hoàng.
Nước mắt Mekong
Có lẽ phải nhấn mạnh rằng những gì vừa nói không là giả thuyết hoặc giả định. Trong thực tế, hiện tượng hạn hán hoặc lũ lụt bất thường tại hạ lưu Mekong đã xảy ra. Trong bài viết trên Japan Focus, hai tác giả Geoffrey Gunn và Brian McCartan đã đưa ra vô số chứng minh về tình trạng lụt bất thường (nghiêm trọng nhất trong một thế kỷ!) bởi sự sử dụng thô bạo dòng Mekong ở thượng nguồn.
Trận lụt kinh hoàng năm 2008 (mực nước cao 13,7m) đã làm Thái Lan thiệt hại khoảng 220 triệu baht (6,48 triệu USD) và Lào chừng 100 tỉ kip (11,6 triệu USD). Năm 2004, Ủy ban sông Mekong (MRC) thành lập năm 1995 với thỏa thuận giữa Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Lào từng gửi thư yêu cầu Trung Quốc cung cấp thông tin về các con đập ở thượng lưu Mekong, nhưng không được phản hồi. Cuối tháng 3/2004, MRC công bố dữ liệu cho thấy lượng mưa giảm mạnh như thế nào tại 16 địa điểm khắp châu thổ Mekong vào năm 2003...
Sự bất bình trước việc khai thác thô bạo thượng lưu Mekong bất chấp quyền lợi cộng đồng hạ lưu từng nhiều lần gây nên làn sóng phẫn nộ. "Tôi sẽ không bỏ cuộc và tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Gia đình tôi đã sống bên dòng sông này nhiều thế hệ. Nếu mấy người muốn xây đập, hãy đập nhà mình mà xây đi!" - phát biểu của bà Sompong Viengchan thuộc tỉnh Ubon Ratchathani (Bắc Thái Lan) tại Diễn đàn công cộng Mekong tổ chức ngày 12 và 13/11/2008 tại Bangkok - "Chúng tôi đánh bắt cá ở đây từ thế hệ này sang thế hệ kia. Bây giờ, chúng tôi thậm chí không bắt đủ cá để nuôi gia đình". Trong 20 năm, Sompong Viengchan là một trong những gương mặt quen thuộc tại Thái Lan trong cuộc chiến chống xây đập dọc sông Mun - một nhánh của Mekong.
Một đoạn sông Mekong chảy qua tỉnh Bò Kẹo (Lào).
Khó có thể kể hết nỗi khổ cư dân hạ lưu Mekong kể từ khi Trung Quốc "lên đồng" với cơn sốt xây đập vài thập niên qua. Thử xem một phóng sự của Hannah Beech (tuần báo Time)... Mẻ lưới chẳng có con cá nào hôm nay, tương tự hôm qua và cũng như ngày trước đó. Trong nhiều thế hệ, gia đình Bun Neang sống nhờ Tonle Sap, cái hồ được "nuôi" bằng dòng Mekong. Cách đây hai thập niên, bố Bun Neang có thể bắt được 30kg cá mỗi ngày. Bây giờ, thậm chí kiên nhẫn vác lưới đến tận vùng sâu gần làng Chong Koh, Bun Neang vẫn chỉ bắt được vài ký cá nhỏ. Vấn đề không phải là đánh cá quá mức mà bởi Tonle Sap khan hiếm cá. Lý do? Tại các con đập Trung Quốc - Bun Neang khẳng định. Mekong, nơi từng chiếm 17% lượng cá nước ngọt được đánh bắt khắp thế giới, nay bắt đầu cạn nguồn cá.
Tổ chức phi lợi nhuận Mạng sông ngòi Đông Nam Á cho biết, lượng cá tại biên giới Thái Lan - Lào đã giảm còn một nửa bởi hệ thống đập của Trung Quốc! Nông dân châu thổ Mekong cũng bắt đầu nói đến sự thất thường và khó đoán về thời điểm mùa lũ; về tình trạng nước mặn thâm nhập đồng ruộng; về sự cạn kiệt nguồn phù sa... "Người ta không thể nói về Mekong ngày nay mà không đề cập đến Trung Quốc" - phát biểu của Carl Middleton, nhà tư vấn môi trường thuộc tổ chức Mạng sông ngòi quốc tế - "Quá nhiều điều đang xảy ra với Mekong, bất luận kinh tế, xã hội hay môi trường, đều có liên kết với sự phát triển Trung Quốc".
Quả báo nhãn tiền!
Có lẽ cũng cần nói thêm rằng, việc xây đập đáp ứng cơn khát điện không phải không có cái họa nhãn tiền cho chính Trung Quốc. Sau trận động đất kinh hoàng tại Tứ Xuyên vào tháng 5/2008, Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia Trung Quốc cho biết có đến 391 con đập thủy điện tại 5 tỉnh Trung Quốc đang trong "tình trạng nguy hiểm" bởi có thể bị đổ sập do động đất. Trong thực tế, Trung Quốc không phải chưa từng bị "quả báo". Cụ thể là vụ Bản Kiều (Banqiao) - một trong 62 con đập thuộc khu vực Trú Mã Điếm tại tỉnh Hà Nam. Được xây từ thập niên 50 của thế kỷ trước, Bản Kiều từng được kỹ sư Liên Xô nâng cấp sau khi bị phát hiện vết nứt. Nó được sửa chắc chắn đến mức được mệnh danh là con đập sắt "không thể phá hủy".
Thế rồi năm 1975 cơn bão Nina xảy ra. Mưa như trút nước. Thoạt đầu, con đập nhỏ hơn ở thượng nguồn - Thạch Man Than (Shimantan) - bị vỡ. Cơn lũ nước ào ạt từ Thạch Man Than tràn xuống Bản Kiều. Con đập bị vỡ trong tích tắc, tung ra loạt sóng cao 6m với tốc độ gần 50km/g; càn quét và làm sập hơn 60 con đập khác trên đường đi! Hậu quả, hơn 200.000 người chết (1/3 từ lụt và phần còn lại bởi nạn đói và bệnh); hàng triệu người bị cô lập bởi hệ thống giao thông và truyền thông tê liệt, thiệt hại hàng chục triệu USD. Tất nhiên với hệ thống đập khắp nơi như hiện nay, Trung Quốc vẫn chực chờ hiểm họa sập đập.
Đầu tháng 4/2007, Giáo sư Đại học Bắc Kinh Sheng Jiemin cùng 12 học giả đã ký lá thư gửi Thủ tướng Ôn Gia Bảo nhấn mạnh rằng con đập khổng lồ Tam Hợp đang đẩy nhanh mức độ ô nhiễm sông Dương Tử cũng như gây ra hạn hán năm 2006 tại khu vực Trùng Khánh thuộc Tứ Xuyên bởi nó chặn dòng ra của lưu vực Tứ Xuyên (Tứ Xuyên Bồn Địa). Trận hạn hán trên là lần hạn hán nghiêm trọng nhất trong 100 năm qua! Vấn đề xây đập thật ra là đề tài gây tranh cãi với chính những người trong bộ máy Chính phủ Trung Quốc. Năm 2004, Thủ tướng Ôn Gia Bảo từng cố ngăn chặn "chiến dịch" xây 13 con đập trên sông Nộ (Nujiang, dài 2.815km - chảy ngang Vân Nam rồi vào Myanmar, nơi nó có tên Thanlwin; và Thái Lan, nơi có tên Salawin) nhưng bất thành.
Trở lại với dòng Mekong và khu vực hạ lưu đang khốn khổ của nó. Yếu tố địa lý Mekong cho thấy nó là một con sông quốc tế và như vậy nhất thiết việc khai thác nó phải tuân theo luật quốc tế hoặc ít nhất phải có sự đồng thuận quốc tế. Điều này trong thực tế đã và chưa xảy ra!
Cây Lược vàng
Một vài dẫn liệu sinh học về cây Lược vàngGần đây có quá nhiều thông tin về công dụng chữa bệnh của một loài cây mang tên "Lược vàng". Các thông tin này thuận nghịch nhiều chiều khiến quần chúng nhân dân không biết tin vào đâu. Một số thông tin dè dặt, những cũng lắm thông tin cho rằng Lược vàng là một loại "Thần dược", trị được bá bệnh, kể cả những bệnh hiểm nghèo như ung thư. Lướt qua các thông tin đó, chúng ta sẽ thấy độ tin cậy không cao do không kèm theo bất kì một minh chứng y học thực nghiệm nào. Một số lương y và một số phóng viên đã dựa vào thông tin truyền miệng của cộng đồng ở Thanh Hóa để cho rằng Lược vàng trị được hàng loạt bệnh như các chứng bệnh tim mạch, tăng huyết áp, thoái hóa đốt sống cổ, viêm đại tràng mạn tính, viêm gan, táo bón, chảy máu dạ dày, tiểu đường, mỡ máu, thấp khớp, chấn thương trầy xước, bầm tím, viêm họng, viêm mũi, viêm thận, đau răng, loét lợi, eczema, sỏi thận, tai biến mạch máu não, u xơ tuyến tiền liệt, ung thư, đau lưng, bỏng, say rượu... và cả cho những trường hợp hóc xương. Một số bài báo đã dẫn tài liệu của Nga, nơi cây Lược vàng đã được nghiên cứu hơn 20 năm qua, cũng nêu lên tác dụng đối với hàng loạt bệnh, từ viêm nhiễm da, bệnh đường tiêu hóa, bệnh tim mạch, dị ứng, rối loạn chức năng sinh lí và cả ung thư. Chính những nguồn thông tin đó đã gây sự chú ý đặc biệt đối với người dân. Nhưng điều quan trọng tối thiểu là, hầu như chưa có bất kì thông tin về thử nghiệm lâm sàng nào được công bố một cách hệ thống và cụ thể.
Do có kiểu tái sinh sinh dưỡng bằng những cầu sinh dưỡng (stolons), mọc ra từ những nách lá ở đoạn thân gần gốc, trông tựa những vòi của loài mực và bạch tuộc, thân và lá của cây lại hao hao giống một loài địa lan, nên Lược vàng còn có tên Lan vòi, Địa lan vòi, Lan rũ, Bạch tuộc, Trai phất dũ, Giả khóm... Cây có nguồn gốc ở Mexico với nhiều tên gọi khác nhau như Basket plant, Inch plant, Golden tendril, Golden Moustache… và từ khi nó được người Nga nghiên cứu sử dụng trị bệnh thì còn được mang tên Russian holistic medicinal plant, House Ginseng, Family Doctor…Các tên gọi Lan vòi, Địa lan vòi hay Lan rũ đã khiến không ít người không có chuyên môn cứ tưởng đó là một loài cây trong họ Lan. Từ đó, ở nhiều địa phương, nhiều người tìm giống về trồng trong những chậu treo hay chậu đất với hi vọng sẽ có hoa đẹp như một loài lan bất kì nào đó. Thế nhưng, một số trường hợp do không đáp ứng được điều kiện sinh thái thích hợp, nhiều năm liền cây không ra hoa. Thế là có người thì loại bỏ đi, có người vẫn giữ lại để chơi dáng thế. Từ khi rộ lên những thông tin trị bá bệnh, người ta bắt đầu săn lùng để sở hữu dùng tự chữa bệnh theo các thông tin đã tiếp cận hoặc dự trữ cho khi cần thiết. Do vậy, trong thời gian vừa qua, ở nhiều tỉnh thành Việt Nam, nhu cầu phát triển cây lên rất cao, nhất là ở Hà Nội, giá cây giống cứ tăng dần theo nhu cầu xã hội, từ 10-15 ngàn/ cây lên dần đến cả 40-50 ngàn/ cây.
Về mặt phân loại học, Lan vòi là cây thân thảo một lá mầm, không thuộc họ Lan (Orchidaceae) mà thuộc họ Rau trai, còn gọi là họ Thài lài (Commelinaceae). Vị trí phân loại của nó trong hệ thống phát sinh chủng loại, được xếp theo các bậc phân loại từ cao xuống thấp như sau:
Giới: Thực vật - Plantae
Ngành: Ngọc lan - Magnoliophyta (Hạt kín - Angiospermatophyta)
Lớp: Hành - Liliopsida (Một lá mầm - Monocotyledonae)
Bộ: Rau trai (Thài lài) - Commelinales
Họ: Rau trai (Thài lài) - Commelinaceae
Chi (Giống): Callisia (Spironema)
Loài: Callisia (Spironema) fragrans (Lindl.) Wood.
Lược vàng là loài cây thân thảo đa niên, thân ngắn, tích trữ nhiều nước, thích nghi theo hướng chịu hạn, có nhiều cầu sinh dưỡng, gọi theo kiểu dân dã là vòi. Lá màu xanh lục sáng, hình ngọn giáo, dài 8-12 cm, rộng 4-5 cm, mép hơi gợn sóng, mọc xoắn ốc, tạo thành cái loa hình hoa thị trông tựa một cái phểu ở đỉnh. Lá có thể thay đổi một ít hình dạng và màu sắc khi ở các môi trường khác nhau. Trong điều kiện chiếu sáng toàn phần, cường độ ánh sáng mạnh, ẩm độ không khí và ẩm độ đất thấp thì lá ngắn lại, mép gợn sóng nhiều hơn và có đường viền màu tím, lá cũng mọc chặt hơn. Hoa mọc thành từng cặp xim trên một trục dài 40-50 cm, mỗi cặp xim được ôm bởi 3 lá bắc dài 1-1,5 cm; đài trắng-trong suốt, khô xác, hình trâm, dài 5-6mm; tràng trắng trong, bóng nhẵn, mỏng, rũ vào buổi trưa, hình trứng hẹp, dài 6 mm; nhị 6. Cây chỉ ra hoa trong điều kiện sinh thái tối ưu, đặc biệt là ở nơi có che bóng một phần. Trong điều kiện khô hạn, thời gian chiếu sáng trong ngày dài, cường độ ánh sáng cao, cây không ra hoa (Wagner et al., 1999).
Đây là một loài lạ đối với khu hệ thực vật Việt Nam, chưa được các nhà thực vật học Việt Nam nghiên cứu. Hầu như danh tính của loài này chưa được công bố trong những công trình nghiên cứu khu hệ thực vật trong nước từ trước tới nay. Năm 1993, trong công trình "Cây cỏ Việt Nam, tập III", Phạm Hoàng Hộ (dưới đây viết tắt PHH) đã công bố họ Commelinaceae gồm 13 chi với 60 loài. Năm 2005, trong công trình "Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập III", Viện Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật thuộc Viện Khoa học & Công nghệ Việt Nam cùng Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên & Môi trường, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (dưới đây viết tắt VST) đã công bố 15 chi, 58 loài. Trong cả hai công trình lớn đó không có loài Lược vàng và cũng không có chi Callisia. Trong số những loài được công bố, một số loài được các tài liệu y dược học trong nước liệt kê, mô tả, nêu công dụng dược học. Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi, 1997 là tài liệu công bố nhiều chi, nhiều loài được dùng làm thuốc nhất. Đó là Murdannia (7 loài), Commelina (4 loài), Tradescantia (3 loài), Cyanotis, Pollia (2 loài), Floscopa, Spatholirion, Streptolirion (1 loài). Hầu hết được dùng chữa trị các bệnh thông thường, bệnh ngoài da, bệnh viêm nhiễm… không thấy trị các bệnh hiểm nghèo như các bài báo trong nước và tạp chí của Nga đã công bố về cây Lược vàng lâu nay.
Một số tài liệu về thực vật học và cây thuốc trên thế giới chỉ công bố rất khiêm tốn về tác dụng của cây Lược vàng. Một số tài liệu cũng cho rằng nó chỉ có khả năng chữa trị một vài bệnh liên quan đến rối loạn chức năng hệ miễn dịch viêm nhiễm ngoài da, thậm chí nó chỉ là một loài cây có giá trị che phủ đất, chống xói mòn.
Tuy nhiên, cũng có một số tài liệu của Canada và Mỹ công bố kết quả nghiên cứu thành phần hóa học của nó. Chẳng hạn như:
- Tạp chí Chemistry of Natural Compounds, số 3, tháng 5 năm 2007, xuất bản ở New York, cho thấy các nhà khoa học Mỹ đã xác định được các lipid trung tính bao gồm cả glycolipid, phospholipid và thành phần acid béo của chúng. Đồng thời cũng đã xác định được hàm lượng acid ascorbic, các acid hữu cơ khác, diệp lục tố (chlorophyll) và sắc tố carotenoid trong các cơ quan khác nhau của Lược vàng.
- Một số công trình khoa học ở Mỹ và Canada đã công bố kết quả nghiên cứu các hoạt chất sinh học trong cây Lược vàng, bao gồm nhóm Flavonid, Steroid, các vitamin C, B2 (riboflavin), B3 (acid nicotinic), B5 (acid pantothenic) và các vi khoáng như đồng, sắt, nicken… Trong số đó, nhóm flavonoid có tác dụng trị bệnh cao hơn cả. Nhóm flavonoid có trong cây Lược vàng bao gồm hoạt chất Quercetin và Kaempferol. Đây là hai hoạt chất đã được phát hiện ở nhiều loài thực vật khác nhau, đã được nghiên cứu tác dụng dược học từ lâu. Dựa vào tính chất hóa học và công dụng của chúng, khi chỉ cần phát hiện nó trong cây Lược vàng, nhiều người cũng khẳng định cây Lược vàng có khả năng điều trị những bệnh mà Quercetin và Kaempferol có được, mặc dù chưa nghiên cứu cụ thể hàm lượng, cũng chưa thử nghiệm y học trên cơ thể người đối với cây Lược vàng.
Quercetin có công thức phân tử là C15H10O7, khối lượng phân tử 302,236g/mol, điểm nóng chảy 316oC.
Kaempferol có công thức phân tử là C15H10O6 (chỉ khác Quercetin 1 phân tử oxy), khối lượng phân tử là 286,23 g/mol, điểm nóng chảy là 276-278oC.
- Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ (The American Cancer Society), Quercetin có khả năng chống bệnh phổ rộng (lây nhiễm, viêm khớp, hen phế quản, dị ứng da và những bệnh màng nhầy, tim mạch, đái tháo đường), bao gồm cả ung thư. Đã có những thí nghiệm trên tế bào ở phòng thí nghiệm về các chuyển chất khác nhau của Quercetin bao gồm chuyển chất chặn đứng ung thư, nhưng những nghiên cứu này chưa tiến hành trên cơ thể động vật và người.
- Trong enzym học (Enzymology), các nghiên cứu đã cho thấy Quercetin hiện hữu dưới nhiều dạng quercetin 2,3-dioxygenase, quercetin 3-O-methyltransferase, quercetin-3-sulfate 3'-sulfotransferase, quercetin-3-sulfate 4'-sulfotransferase, quercetin-3,3'-bissulfate 7-sulfotransferase. Tùy loài thực vật, tùy môi trường sống, tuổi sinh trưởng… sự hiện hữu đó không giống nhau. Điều này cho thấy rằng, những thông tin cho rằng cây Lược vàng trị được ung thư có thể xuất phát từ một sự qui nạp thiếu logic. Chẳng hạn như, theo UCLA (University of California, Los Angeles) khi nghiên cứu bệnh ung thư thấy rằng, thức ăn chưa nhiều flavonoid có thể có khả năng ngăn chặn sự phát triển ung thư phổi. Từ đó có người hiểu rất chung rằng trong cây Lược vàng cũng có flavonoid nên trị được ung thư.
- Cũng theo Hiệp hội Ung thư Mỹ (The American Cancer Society), Kaempferol có tác dụng tăng cường tính thấm, lợi tiểu, được dùng điều trị các bệnh đường tiết niệu, dị ứng.
- Ngoài ra, cũng theo các tài liệu trên, Lược vàng còn chứa beta-sitostirola, có tác dụng giảm lượng cholesterol trong máu, làm sạch và săn chắc thành mạch máu, được dùng điều trị chứng xơ vữa động mạch, bệnh rối loạn biến dưỡng, hệ nội tiết, viêm tiền liệt tuyến.
- Vừa qua, với chức năng bảo vệ sức khỏe cộng đồng, một số nhà khoa học đầu ngành Dược học (Ts Nguyễn Minh Khởi, Ts Nguyễn Duy Thuần, Ts Trịnh Thị Điệp, Ts Trần Công Khánh…) và Viện Dược liệu, thuộc Bộ Y Tế, đã tiến hành nghiên cứu thành phần các hoạt chất của cây, đã khẳng định, chưa thấy hoạt chất trị ung thư, cũng chưa đủ luận cứ khoa học để khẳng định trị hằng loạt bệnh như các bài báo đã từng đăng tải lâu nay. Cuối cùng, Bộ Y tế cũng đã khuyến cáo: "Người dân nên thận trọng, dè dặt khi dùng cây Lược vàng, trong khi chờ đợi các kết quả nghiên cứu tiếp theo. Đồng thời, các nhà khoa học và Bộ Y tế cũng khẳng định lại rằng, chẳng có một loại dược phẩm hay dược thảo nào có khả năng trị tất cả bệnh chứng với một liều chung chung cho mọi dạng cơ thể như các thông tin truyền đi lâu nay".
Cây Lược vàng đã được nhiều gia đình trồng làm cảnh nhiều năm, nhưng không rầm rộ lắm. Gần đây, khi tiếp cận các thông tin báo chí về khả năng trị bệnh phổ rộng của nó với một tên gọi quá hấp dẫn là "cây Thần dược", số lượng người săn tìm nguồn giống về trồng trong sân vườn của mình đã tăng lên một cách đáng kể.
Tôi nghĩ, qua những dữ liệu về thành phần hoạt chất đã được các nhà khoa học phương Tây xác định, nhưng chưa thấy kết quả thí nghiệm lâm sàng và cận lâm sàng được công bố. Hơn thế nữa, tài liệu của Hiệp hội Ung thư Mỹ cũng đã cho thấy nghiên cứu tác dụng chữa ung thư chỉ mới dừng lại ở mức tế bào, tiến hành trong phòng thí nghiệm, chưa thử nghiệm trên cở thể động vật và người. Ngay cả ở Nga, nơi đã nghiên cứu tác dụng trị bệnh của cây Lược vàng 20 năm về trước cũng chỉ cho Lựợc vàng là cây thuốc quí, chứ không coi là thần dược. Các công trình khoa học về cây thuốc đáng tin cậy ở trong nước như "Những cây thuốc và vị thuốc" của Đỗ Tất Lợi, "Từ điển cây thuốc Việt Nam" của Võ Văn Chi, "Dược điển Việt Nam" của Bộ Y Tế… cũng chưa từng nhắc tới loài cây này.Vậy trường hợp ở Việt Nam ta, những khuyến cáo của Bộ Y tế mới đây là cơ sở vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lí, bất kì ai còn cho rằng sức khỏe của mình là tài sản thiêng liêng, quí báu, rất cần bảo tồn thì nên thận trọng là tốt nhất.
Đối với những ai muốn sử dụng Lược vàng làm cây cảnh quan để tôn tạo không gian tư thất, nên biết thêm, cây sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện đất giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt, đủ ẩm, ẩm độ không khí thấp ở ngưỡng 45-60%, nhiệt độ tối thích 20-25oC. Cây chỉ ra hoa trong điều kiện được che bóng một phần. Có thể nhân giống bằng hạt và cành. Cành chính là vòi như đã nêu trên. Nhân giống bằng cành là con đường ngắn nhất.
Nếu sử dụng Lược vàng làm cây che phủ đất chống xói mòn thì có thể tận dụng tính chịu hạn của nó. Có thể tôi luyện tính chịu hạn cho cây để đưa trồng trên vùng cát nội đồng hay cát ven biển, làm vành đai cố định cát, chống cát bay, cát chuồi, bảo vệ các khu đất sản xuát nông nghiệp. Cũng có thể trồng ven các hồ nước, ao nuôi các loài thủy sản để giữ đất. Bản thân tôi cũng phát hiện được tính chịu hạn rất tốt của Lược vàng. Vừa qua, tôi đã thử nghiệm thả cây trên sàn bê-tông của sân thượng, không đất, không tưới, không chăm bón, mặc cây tận dụng nguồn nước trời, sương và mưa để sống tự nhiên. Thế mà suốt mùa hè nóng bỏng 2008 cho đến nay, chẳng có cây nào chết khô, chúng vẫn sinh trưởng, phát triển, vẫn đâm vòi, sinh cây con, chỉ có hạn chế sinh trưởng vươn dài thân và lá, màu lá hơi ngả vàng, không xanh mướt như trồng trong chậu cảnh có tưới nước thường xuyên và để nơi râm mát. Tôi dự kiến, khi Bộ Y Tế công bố chức năng chữa bệnh của nó, nếu thật sự cần phát triển, sẽ đem những cây đã được tôi luyện chịu hạn đó về vùng cát nội đồng và cát ven biển, nhân giống, trồng thành những đai phòng hộ cho các khu trồng cây nông nghiệp để vừa tận dụng khả năng chắn cát bay, vừa thu sản phẩm y tế. Giờ đây, tôi vẫn tiếp tục theo dõi thử nghiệm của mình. Có lẽ, sau khi trải nghiệm mùa hè thứ hai (năm nay), tôi cũng sẽ triển khai một thí nghiệm nho nhỏ ngoài đồng ở một vùng cát nào đó, dù không vì mục đích phát triển nguồn gen cây dược liệu thì cũng đáp ứng mục tiêu bảo vệ môi trường.
(Theo Đỗ Xuân Cẩm)





