Hiển thị các bài đăng có nhãn đọc báo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đọc báo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 10, 2010

Hà Nội tình yêu và nỗi nhớ!


Hà Nội nhớ. Hà Nội thương. Hà Nội trong bao kỉ niệm nào xa xăm mà cũng thật gần lắm của anh và em, của cả hai ta anh nhỉ?
Một Hà Nội xinh tươi cứ vẽ ra trước mắt em. “Rạo rực và đam mê”- anh cũng từng thốt lên như thế. Xuân - Hạ - Thu - Đông cứ thay nhau khoác cho phố phường những tấm áo choàng bắt mắt, khiến thành phố ngàn năm tuổi này mỗi sáng trở mình lại đem bao sự mới mẻ tới cho nơi đây.
Một ngày xuân sang, Hà Nội phơi phới trong sắc đào phai, non tơ những lộc non trên cành. Chuyển hạ, thành phố lại khoác trên mình chiếc áo vàng rực của mặt trời chói sáng, thêm màu lá xanh rợp bao con đường. Thu về mang chút nắng hanh hao theo từng cơn gió chiều thổi nhẹ, và ngọt ngào hương hoa sữa đầu phố lúc đêm đêm. Hà Nội mùa đông thì lại khác, thành phố như trở mình vùi sâu và giấc ngủ, ấp ủ hương hoa, ấp ủ lòng người chờ năm mới sang…
Giữa bao bức tranh tuyệt đẹp về Hà thành ấy, anh nói nhỏ với em rằng em hãy là mùa thu đi, vì chính em hiện hữu trong anh vốn dĩ đã là mùa thu Hà Nội, thật dịu dàng, nhẹ nhàng, khiến anh mê mải kiếm tìm bao năm. Anh đam mê em như đam mê thu Hà Nội… Những ký ức về anh thuộc về miền hoài niệm rất xa giờ lại hiện hữu trong em thật rõ nét. Hà Nội trong anh hôm nay có khác xưa chăng? Thu về bình yên trên từng gốc sấu già, bình yên trong cả những bước chân người qua, trong từng vòng xe đang lăn bánh trên đường. Em lại nhớ những vòng xe hai ta long nhong nơi phố nhỏ khi thu sang. Mát rượi… Đạp xe trên đường, lá thu nghiêng nghiêng rớt xuống rỏ xe, anh đang lái xe nhưng vẫn đưa tay với nhặt tặng em để em mang về ép trong trang vở trắng tinh khôi, có lần ta suýt ngã anh nhỉ? Giờ nhớ lại thấy cay cay sống mũi vì nhớ... Em thích cái khí trời Hà Nội khi vào thu, càng ngất ngây hơn khi hương sữa đủ độ chín cuối mùa. Khi ấy, có cái se lạnh luồn trong những cơn heo may khiến con gái Hà thành đẹp dần lên trong khăn áo, trong sắc thu và trong mắt con trai. Anh đã nhận xét thế. Chiếc áo khoác len màu kem thật điệu đà anh tặng cho em vào mùa thu trước vẫn còn thơm mùi hoa sữa anh ướp hương.Hôm nay, một mình dong duổi trên những con phố nơi chúng mình từng đạp xe qua, em vẫn khoác trên mình tấm áo ấy, như một lời thầm cảm ơn anh, cảm ơn mùa thu anh dành tặng em. Ngọt ngào! Thu chính là anh, là emLà tình yêu của đôi lứa Hà Thành Cứ mãi vậy cho tim yêu mãi đập... Em đang rẽ vào con phố Phan Đình Phùng với hàng cây xanh lá, để tận hưởng tới ngọn nguồn cái dịu mát của mùa thu mà khó nơi đâu sánh kịp. Em đạp xe thật chậm, những vòng quay chậm chậm, mơ hồ. Em cố rướn vòm ngực thật rộng để cố thâu góp được thật đầy cái không khí tươi mát ấy. Mà không, phải cho no nê, cho đã đầy mới được vì cuối thu rồi, sẽ chẳng còn bao lâu được đắm chìm trong thu nữa. Lồng ngực căng phồng, trong em tràn trề nhựa sống. Sức thu kì lạ anh nhỉ! Em bịn rịn chia tay con phố, tiến dần theo hướng Tràng Thi để thỏa sức ngắm nhìn những chiếc lá bàng đỏ chao trước gió rồi nhẹ đáp xuống mặt đường. Nhiều chiếc lá khô, như không chịu nằm yên một chỗ nghe âm thanh mùa đi mà lao xao đùa nghịch cùng gió, theo bước chân người đi đường, để níu giữ mùa đang trôi. Một sắc đỏ phai phủ khắp nẻo đường. Em còn thèm lắm được hít hà cái mùi hoa sữa nồng nàn trên đường Nguyễn Du. Nhưng mà ngửi hương sữa ban đêm là thú nhất. Em sẽ chờ cho đêm xuống… Hoa sữa ơi! Những vòng xe lại đưa em qua những con phố cổ. Vẫn còn đó những mái ngói xô nghiêng, những tường hoa rêu phong cổ kính. Vẫn những góc phố nhỏ, vẫn những con đường sâu hun hút, nhưng hôm nay nó lại mang không khí hiện đại. Nó đang từng bước đổi khác trong dòng chảy của thời gian. Mùa thu khẽ lướt qua từng góc phố, mang theo cái dịu dàng, thanh tao, cái mềm mại, duyên dáng. Bên khung cửa sổ nhà ai đó, em thấy có cô gái đang tư lự trong chút nắng cuối thu. Có lẽ thế anh ạ!Thu đang dần đi tới cái cuối của mùa, tới cái thời khắc giao mùa với chúa Đông. Khi những cơn gió heo may về trong nỗi nhớ. Cái lạnh đầu mùa thoáng qua khiến cho con người ta chợt bừng lên những khao khát và cảm xúc yêu thương. Thu mang bao điều kì lạ, khiến ta thêm phần hiếu kì, tò mò, cố gắng khám phá nó, nắm bắt lấy nó… Em cứ mải kiếm tìm thu trong dòng chảy của đam mê. Những vòng xe cứ thế lăn dài theo từng bước đạp dần gấp gáp của em. Em muốn níu giữ thu lại bên mình thật lâu, cho riêng mình em thôi. Một góc thu riêng trong trái tim em- có anh. Nồng ấm!Cảnh trí thu cứ mở ra trước mắt em đầy tình tứ. Thu Hà Nội vừa kiêu kỳ như tiểu thư đài các. Thu khoác trên mình chiếc áo vàng kiêu sa được dệt nên từ hàng ngàn chiếc lá, thêm chút long lánh của nắng thu phai, nhẹ lướt qua thành phố. Nhưng thu trong em cũng giản dị lắm, gần gũi và thân quen lắm: “Hà Nội mùa thu, nỗi nhớ cứ chơi vơi/ Để trong anh, trong em - Mùa thu dịu dàng lắm!” Đợt gió Mùa Đông Bắc về sớm, heo may như muốn len vào tận sâu trong mọi ngõ ngách của mùa thu. Em mải miết chạy theo nó. Heo may vờn nhẹ trên mái tóc rồi ve vuốt đôi má em… như bàn tay anh. Nhẹ nhàng, mát lành làm sao!Hương hoa sữa sực nức nơi cánh mũi. Em biết mình đã tới được con đường Nguyễn Du rồi. Anh còn nhớ không? Con đường ấy tối thứ bảy nào anh cũng đạp xe đưa em tới để thỏa sức ôm trọn mùi hương vào lòng, để hương hoa luồn qua mái tóc, ướp hương tóc em…Lòng em chùng xuống, lắng lại trong đêm. Một sự yên tĩnh lạ thường. Em như nghe được cả tiếng thời gian khe khẽ. Thu sắp qua!Em bỗng lạc vào trong cái thế giới riêng biệt của thu. Một thế giới âm thanh trữ tình, dịu dặt của “Thơ tình cuối mùa thu” từ căn gác nhà ai vọng xuống mà cảm giác như anh đang kề bên. Nhẹ nhàng, và mơ hồ quá!“Thời gian như ngọn gió Mùa đi cùng tháng năm Tuổi theo mùa đi mãi Chỉ còn anh và em Chỉ còn anh và em Cùng tình yêu ở lại...” Đêm cuối thu, cái lạnh mơn trớn da thịt. Em xoa tay, xít xoa bên cốc trà nóng phía cuối vỉa hè đêm khuya. Trời đang trở mùa anh ạ!Những giai điệu cuối cùng của ngày khiến em chếnh choáng. Nỗi nhớ trong em về anh về mùa thu nơi anh cứ cồn cào da diết. Em yêu thu lại càng yêu anh biết mấy. Em vẫn khoác trên mình chiếc ao màu kem anh tặng. Ấm áp trong đêm sâu. Em nghe thành phố thở, nghe trái tim mình đập những nhịp nhớ thương. Bình yên…Trời bắt đầu sáng, em chia tay với đêm, những vòng xe đưa em về căn gác nhỏ. Em đã có một ngày thỏa sức bên thu. Anh có thể trách em “con gái không được đi một mình trong đêm lạnh như thế” vì “em biết anh lo cho em lắm không?” và em cũng chắc chắn rằng anh yêu thu như em nên anh mới hứa chắc chắn “lần sau muốn đi ngắm phố phường nhớ cho anh một vé nhé”!.. Những câu nói yêu thương của anh cứ vang vọng trong em.
Anh yêu em!
Bởi em chính là Hà Nội
Giản dị, đời thường
Giữa phố phường, đô hội
Anh vẫn nhận ra em.…..
Anh yêu em!
Hà Nội về đêm
Cho anh biết thế nào là nỗi nhớ
Ngọt ngào mùi hương... lan tỏa
Anh say.
Cuối thu, em nghe vang vọng đâu đây thanh âm của những ngày đầu đông sắp tới, chút heo may đã lặn lội tới bên thu. Bình yên, em nghe trái tim đa cảm đập rộn ràng. Con sóng yêu thương vẫn dạt dào vỗ mãi những cảm xúc mãnh liệt của cuối thu. Nồng nàn, da diết!

Tây An (Vnmedia)

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2010

Người phụ nữ giữ phương thuốc gia truyền chữa bệnh chó dại


Đó là chị Lê Thị Thương (46 tuổi), trú ở xóm 5B, xã Nghĩa Mai, Nghĩa Đàn, Nghệ An. Người phụ nữ dân tộc Thổ này kế thừa được phương thuốc chữa bệnh chó dại cắn có từ 5 đời trước của nhà chồng truyền lại và đã cứu giúp được nhiều người khỏi lưỡi hái tử thần…
Chồng chị Thương là anh Trần Văn Thân là người "thừa kế" duy nhất phương thuốc chữa bệnh chó dại cắn của tổ tiên 5 đời trước truyền lại. Không may bị bạo bệnh, trước khi mất anh Thân đã nói bí mật của phương thuốc cho chị, với mục đích cứu người làm phước.
Chị Thương tâm sự: "Theo quy ước của tổ tiên thì phương thuốc chữa bệnh chó dại cắn mỗi đời chỉ được truyền lại cho duy nhất một người đàn ông có tấm lòng trượng nghĩa, làm phước cứu người. Song do lúc bị bệnh sắp qua đời, con trai tui còn nhỏ dại nên anh ấy (anh Thân) mới phá lệ giao cho tui để chờ sau con tui lớn lên truyền lại".
Chị cho biết, trung bình mỗi tuần có khoảng 3 người tới xin bốc thuốc, còn nếu vào mùa nắng nóng bệnh chó dại phát sinh, nạn nhân đến xin thuốc nhiều hơn. Mỗi ấm thuốc chữa bệnh chó dại cắn có 6 loại thảo dược hái từ rừng mang về phơi khô. Trong đó, có một loại gọi là cây "thuốc thầy", chất chủ đạo để trị độc của chó dại, chỉ mọc trong rừng sâu, hẻo lánh, rất khó kiếm được.
Thang thuốc sắc uống trong vòng 4 ngày là bệnh tiêu trừ. Người bị chó dại cắn có thể phát bệnh sau khoảng 2-10 ngày, nên cần phải được cứu chữa ngay. Để kịp cung cấp thuốc cho bệnh nhân, mỗi ngày chị đều tranh thủ lên rừng tìm thuốc đem về phơi khô dự trữ…
Đối với những người bị chó cắn mà không xác định được chó dại hay chó hiền thì chị Thương còn có một phương pháp để phân biệt. Xác định bị chó dại cắn chị mới bốc thuốc cho, hướng dẫn uống thuốc, ăn kiêng rất tận tình. Tận tình cứu giúp mọi người đã gần tròn 4 năm qua, nhìn lại hàng trăm trường hợp vẫn chưa có người nào bị chó dại cắn uống thuốc chị bốc cho mà không khỏi bệnh. Có không ít trường hợp tìm đến chị đã tím tái da thịt, mặt mày; thấy gì cũng sợ, ớn lạnh… Đó là lúc bệnh đã bắt đầu phát, song uống thuốc chị bốc cho chỉ 4 ngày là trở lại bình thường.

Đáng quan tâm, mỗi thang thuốc chị Thương chỉ đổi lại chai rượu gạo, hoặc một gói kẹo để lên bàn thờ cúng tổ tiên. Những người nghèo khó thì chị bốc thuốc cho không, từ chối không nhận lễ vật dù chỉ đơn giản như vậy… Hỏi chuyện láng giềng của chị Thương, ai cũng kể rằng, gia đình chồng chị rồi tới đời chị đều chữa bệnh chó dại cắn rất giỏi. Không riêng trong làng, trong xóm, nhiều người từ Thanh Hóa, Hà Tĩnh tìm tới chị cũng nhiệt tình cứu giúp…
Hiện nay, con trai của chị Thương là Trần Văn Thảo đã bước sang tuổi 17, cũng đã bắt đầu được chị truyền lại cho phương pháp chữa bệnh chó dại cắn. Chị thường căn dặn con rằng, tổ tiên để lại bài thuốc không phải cho con, cháu lấy đó mà kiếm lợi bất chính. Điều cốt yếu tổ tiên mong muốn là con, cháu cứu giúp người gặp hoạn nạn. Đó chính là cái tâm trong sáng của người thầy thuốc…
"Mình làm phúc cho con, cháu sau này thôi chứ lấy tiền của người ta sao đành. Tui nghĩ ở đời gieo nhân nào gặt quả ấy, mình làm phúc cứu người thì con, cháu mình có gặp hoạn nạn thì cũng được người khác cứu giúp" - chị cười nhân hậu…
Ngô Toàn

Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2010

Người khai thác 'nuôi' người bảo vệ rừng


TP - Những người khai thác nguồn lợi từ rừng (thủy điện, nước sạch, khoáng sản, du lịch...) sẽ phải trả phí dịch vụ môi trường rừng (FES). Nguồn thu này dùng để chi trả cho chủ rừng và người bảo vệ rừng.
Sau 15 tháng thí điểm ở hai tỉnh Sơn La và Lâm Đồng, ông Francis A.Donovan - Giám đốc Cơ quan Viện trợ Phát triển Mỹ (USAID) - nhận định Việt Nam trở thành quốc gia tiên phong ở Đông Nam Á trên mặt trận ứng phó với biến đổi khí hậu theo cách rất mới này.
Thủy điện Sê San 3, một trong những đơn vị đang hưởng lợi từ rừng đầu nguồn. Ảnh tư liệu. Chi trả dịch vụ môi trường rừng (FES) là một khái niệm rất mới trên thế giới trong khuôn khổ nỗ lực toàn cầu tìm kiếm các phương cách để chặn đứng tình trạng suy thoái và mất rừng, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thu nhập tăng, tuần rừng nhiều hơn
Ông Francis A.Donovan nhận xét, thật tuyệt vời, sau 15 tháng thí điểm, tỉnh Lâm Đồng thu được 3,5 triệu USD (tương đương 65 tỉ đồng) phí dịch vụ môi trường rừng chỉ từ hai nhà máy thủy điện và một số Cty du lịch, công ty cung cấp nước sạch, để giúp bảo vệ 250.000 ha rừng đầu nguồn sông Đồng Nai - những khu rừng tự nhiên có tác dụng cung cấp nước cho các nhà máy thủy điện; cung cấp nước sạch cho bảy tỉnh thành, trong đó có TPHCM, ở hạ lưu sông Đồng Nai, và duy trì cảnh quan sinh thái cho kinh doanh du lịch.
Hơn một nửa số tiền này được chi trả trực tiếp cho 8.000 hộ tham gia bảo vệ 203.335 ha rừng, giúp tăng thu nhập năm 2009 của họ gấp 3,5 lần so với năm trước đó.
Theo ông Nguyễn Chí Thành, Đại diện Winrock International Vietnam - tổ chức trực tiếp triển khai dự án thí điểm, các dịch vụ môi trường rừng thực hiện trong giai đoạn thí điểm ở các tỉnh Sơn La và Lâm Đồng mới chỉ trên hai trong tổng số năm lĩnh vực. Đấy là bảo vệ đất và điều tiết nước; bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học. Tiền FES được trả vào tài khoản của quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh, tổ chức do nhà nước thành lập. Sau đó, quỹ chuyển tiền đến bên cung ứng các dịch vụ môi trường rừng.
Cũng trả lời Tiền Phong, ông Micheal Jenkins, Chủ tịch Forest Trends, thừa nhận ông rất ấn tượng về những gì được thực hiện ở Lâm Đồng: “Tôi thấy dân và chính quyền địa phương đều phấn khởi”.
Ông Kon Sơ Ha Vương, Phó Chủ tịch UBND xã Đa Nhim (huyện Lạc Dương, Lâm Đồng) kể, trước đây, thu nhập của mỗi hộ thực hiện chăm sóc, bảo vệ rừng là 2,3 triệu đồng/hộ/năm; nay, nhờ thực hiện chính sách thí điểm chi trả FES, giá khoán cũng như diện tích nhận khoán tăng, thu nhập bình quân từ tiền nhận khoán rừng của các hộ trong xã là 8,1-8,7 triệu đồng/hộ/năm. Nhờ đó, năm 2009 tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm còn 15%, số vụ xâm hại rừng giảm một nửa so với năm 2008.
Ông Nguyễn Chí Thành cho hay, trước, người ta tuần rừng khoảng một lần một tháng; nay, một tháng, có người đi tuần mấy lần. Với kết quả này, “Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á thực hiện chi trả các dịch vụ môi trường rừng”.

Chớ giục tốc
Ông Nguyễn Tuấn Phú, Văn phòng Chính phủ, cho biết, nhà nước sẽ can thiệp ở mức tối thiểu và đưa ra các quy định quản lý tài chính thoáng chưa từng có. Trong lộ trình thực hiện Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ quyết tâm đảm bảo tiền thu được theo phương thức mới đến tay người chăm sóc và bảo vệ rừng nhanh và hiệu quả nhất.
Một trong những đột phá là Chính phủ sẽ cho thành lập các quỹ ủy thác tiếp nhận tiền của các bên hưởng dịch vụ FES. Không giống các quỹ khác, quỹ này không phải nộp tiền vào kho bạc nhà nước. Thay vào đó, quỹ thực hiện các bước đi thích hợp để chuyển tiền đến ngay những người hưởng thụ bao gồm chủ rừng và người tham gia bảo vệ, chăm sóc rừng.
Tuy nhiên, từ nay cho đến khi triển khai toàn quốc, còn rất nhiều việc phải làm. Chẳng hạn, theo ông Cẩm Văn Chinh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, để thực hiện đầy đủ chính sách mới chi trả FES, cần sớm rà soát điều chỉnh chính sách giao đất, giao rừng. Chỉ riêng tỉnh Sơn La, với 156 xã có diện tích rừng là 379.272ha thuộc quyền quản lý của 52.000 chủ rừng, chi phí cho việc rà soát, điều chỉnh đã rất tốn kém tiền bạc và thời gian.
Tại Tây Nguyên tiên phong thực hiện thí điểm, ông Hoàng Sĩ Sơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, băn khoăn về việc chưa có quy định cụ thể về các hình thức xử lý, giảm trừ mức chi trả FES cho hộ nhận khoán bảo vệ rừng khi họ vi phạm hợp đồng nhận khoán.
Đơn vị chi trả FES cũng chưa yên tâm mặc dù họ thừa nhận ý nghĩa của việc bảo vệ, chăm sóc rừng đầu nguồn đối với các hồ chứa. Ông Nguyễn Trọng Oánh, Giám đốc Cty Thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi, cho biết, doanh nghiệp đã chi trả FES năm 2009 số tiền 24,34 tỷ đồng. Nộp số tiền lớn như thế, doanh nghiệp lo cơ chế chi trả FES lần đầu tiên thực hiện ở Việt Nam và chưa từng có tiền lệ ở khu vực, liệu có minh bạch;
Ngoài ra, còn có những vấn đề chưa rõ ràng khác như việc phân chia lợi ích giữa các bên liên quan thu được từ người mua dịch vụ, rồi mỗi khu rừng cung cấp chất lượng dịch vụ khác nhau. Đấy là chưa kể, nguồn thu dịch vụ mới chỉ tập trung vào các công trình thủy điện và các khu du lịch sinh thái dựa vào rừng, khiến quy mô quỹ còn hạn hẹp, v.v…
Chính sách chi trả FES là một trong những hướng đi chưa từng có ở Việt Nam. Nhiều người kỳ vọng, nếu tổ chức thực hiện tốt, sẽ giúp mục tiêu quy hoạch gần nửa diện tích quốc gia (47%) cho phát triển lâm nghiệp sớm thành hiện thực.
Không những thế, tại hội nghị quốc tế cũng về FES vừa tổ chức ở Hà Nội ngày 23 và 24-6 với sự tham dự của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, đại diện các tổ chức quốc tế đều nhất trí cho rằng các kết quả thử nghiệm sau gần hai năm thực hiện chính sách chi trả FES ở Việt Nam sẽ sớm được xem xét và áp dụng cho các quốc gia trong khu vực, trước hết là Thái Lan, Lào, và Campuchia. Đặc biệt, họ sẽ xem xét vai trò của chính phủ nên can thiệp đến đâu là vừa khi thực hiện chính sách rất mới này.
Chính vì thế, rất nhiều tổ chức quốc tế đang theo dõi chặt chẽ các bước đi tiếp theo của Chính phủ Việt Nam trong việc đưa chính sách chi trả FES ra quy mô toàn quốc. Trong bối cảnh ấy, có ý kiến cho rằng chính sách mới dù hứa hẹn mấy cũng không nên giục tốc mà bất đạt.

Quốc Dũng

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2010

Dạy kiến thức Biến đổi khí hậu bằng... đề toán

.
Thay vì những đề toán bắn chim, săn thú có trong sách giáo khoa từ hàng chục năm nay, cô giáo Hoàng Thị Nho đã nghĩ ra ý tưởng xây dựng một bộ đề toán chuyên về bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu.

Những đề toán lạ!
“Nếu mẹ em có thói quen xách làn đi chợ thay vì đựng thực phẩm trong các túi nilon thì trung bình 1 ngày sẽ bớt được 11 túi nilon bị sử dụng. Hỏi trong 1 tháng, 1 năm nếu mẹ em có thói quen này thì sẽ bớt được bao nhiêu túi nilon thải ra môi trường? Và hãy thử tính toán nếu trong một khu phố có 1.200 người dân có các bà, các chị có thói quen tốt này thì một năm sẽ bớt được bao nhiêu kg túi nilon thải ra môi trường nếu biết rằng cứ trung bình 150 túi bằng 1kg túi nilon?”.


“Một văn phòng nhân viên có thói quen sử dụng máy điều hòa cả ngày. Nếu họ chỉ sử dụng 2 tiếng lúc thời gian nóng nhất trong ngày, hãy tính lượng điện mà văn phòng này tiết kiệm được trong một tuần, trong một tháng và một năm? Biết rằng mỗi tiếng sử dụng điều hòa tiêu hao mất 1.000W. Giả sử ở một huyện có 100 văn phòng biết sử dụng tiết kiệm và hạn chế sử dụng điều hòa theo cách trên, hãy tính lượng điện tiết kiệm được trong cả năm của huyện đó?”.

“Một trường học có 6 vòi nước. Cứ giờ ra chơi có 2 học sinh rửa tay và quên khóa vòi nước. Để nước chảy trong 45 phút. Hãy tính thời gian nước chảy lãng phí trong một buổi học, một tuần học, một tháng học và một năm học?”...

Trong 61 gian trưng bày tại vòng chung kết Ngày Sáng tạo Việt Nam 2010 diễn ra hôm 5-5, rất nhiều người tham quan triển lãm đã dừng lại ở gian trưng bày dự án “Đề toán về biến đổi khí hậu cho học sinh Trung học cơ sở và những hoạt động tiếp nối” để đọc những đề toán ngộ nghĩnh như thế. Những đề toán được viết to trên những tờ giấy xanh đỏ, đính trên những tấm nan tre, treo khắp gian hàng, cùng những bức tranh học sinh vẽ về môi trường. Chỉ thế thôi dự án đề toán cũng đã thu hút cả những chủ nhân gian hàng bên cạnh và ban giám khảo.
Cô giáo Trịnh Thị Quang, Hiệu trưởng Trường THCS Kiến Hưng, Phường Kiến Hưng, Quận Hà Đông - Hà Nội kể lại, ngay sau khi cô trình bày đề án, một thành viên Bam giám khảo đã không kìm được cảm xúc của mình và thốt lên: “Hay quá! Độc đáo quá!”.

Ý tưởng này là của cô giáo Hoàng Thị Nho, giảng viên ĐH Sư phạm Hà Nội, người đã có kinh nghiệm nhiều năm trong việc giảng dạy cho HS mầm non. Chị Nho đã chọn trường THCS Kiến Hưng là nơi triển khai đề tài của mình. Trường THCS Kiến Hưng khá rộng, HS lại chỉ học một buổi nên có hẳn một buổi còn lại để tham gia các hoạt động ngoại khóa. Thầy cô giáo vì thế cũng rảnh rỗi hơn các trường khác, có thời gian để tập huấn về các đề toán rồi truyền đạt đến HS. Cô hiệu trưởng Trịnh Thị Quang cho biết, nhà trường đã đồng ý tham gia thực hiện dự án ngay sau khi được chị Nho trao đổi về ý tưởng này.


Khi trẻ em thay đổi nhận thức của người lớn
Không phải chỉ giám khảo vòng chung kết mới ấn tượng bởi những đề toán, mà ngay từ vòng loại, đề án Đề toán và BĐKH cho học sinh THCS và những hoạt động tiếp nối đã nhận được những đánh giá cao từ ban giám khảo. Trong khi bảy thành viên Ban giám khảo nhóm 3 của vòng loại đã phải tranh luận rất lâu về danh sách các đề án vào chung kết của nhóm, thì riêng đề án này thì lại có được sự thống nhất cao.

“Ngày xưa chúng tôi đi học, chỉ được biết đến những đề toán dạng như: “Trên cành cây có 5 con chim. Hỏi bắn mất một con thì còn mấy con?”. Những nội dung như thế, khi đưa vào đề toán, lại trở nên phản giáo dục, nó ngấm dần vào một thế hệ nay đã là những ông bố bà mẹ thói quen tàn sát động vật hoang dã, hủy hoại môi trường. Còn cách làm của đề án này thì ngược lại hoàn toàn.”, ông Dương Thanh An, Phó Cục Trưởng Cục bảo tồn đa dạng Sinh học – Tổng cục môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, thành viên ban giám khảo vòng loại nhận xét.

Và cách ngược lại ấy của chị Nho là khi soạn đề toán, sẽ lờ đi những hành vi kém, hạn chế, mà chỉ đưa những hành vi tốt vào nội dung đề mà thôi. Theo chị, nếu nói đến bảo vệ môi trường, HS có thể biết, nhưng BĐKH là một khái niệm khá trừu tượng. Chính vì vậy qua đề toán, hành vi của con người được lặp đi lặp lại nhiều lần, giúp HS có thể tính toán được, nhận thức được vấn đề, rồi hành động theo những hành vi nhỏ ấy và khuyên người lớn thực hiện theo.

Chị Nho lấy ví dụ trong đề toán về túi nilon, cô không hỏi mỗi ngày dùng hết bao nhiêu túi nilon, mà hướng HS đến nếu một ngày mẹ em dùng làn đi chợ thì sẽ tiết kiệm được bao nhiêu tiền mua túi nilon. “Như vậy, tôi sẽ nhắc nhở HS là em có thể khuyên những người nội trợ như mẹ mình dùng làn đi chợ để vừa tiết kiệm được tiền túi nilon, vừa bảo vệ môi trường. Và sau này, khi các em trở thành người lớn, các em cũng nên xách làn đi chợ để tiết kiệm”, chị nói.

“Ngày xưa, người lớn hay giáo dục trẻ em phải làm theo mình, Nhưng ngày nay, trẻ em có thể thay đổi được nhận thức của người lớn. Khi đi với con, chúng ta sẽ không dám vượt đèn đỏ, không vứt rác bừa bãi ở nơi công cộng. Vì nếu làm như vậy, những đứa trẻ sẽ thắc mắc ngay”, ông Dương Thanh An thừa nhận. Và khi tác động vào ý thức của trẻ em, cũng có nghĩa là đề án đã giáo dục được cả người lớn.


Cơ hội để nhân rộng
Đây không phải là lần đầu tiên cô giáo Hoàng Thị Nho nghĩ ra ý tưởng và phối hợp với các trường thực hiện, mà đã là lần thứ tư chị Nho đoạt giải Ngày Sáng tạo Việt Nam. Năm 2007, cô giáo Nho cũng đã giành giải của Ngày Sáng tạo Việt Nam về An toàn giao thông với đề án “Những tình huống chơi đóng vai theo chủ đề an toàn giao thông cho trẻ mẫu giáo”. Đề án được áp dụng thành công tại Trường Mầm non Đống Đa và Trường Mầm non Tuổi Hoa quận Đống Đa, Hà Nội.

Những đề toán độc đáo từ ý tưởng đến cách trình bày


Sang năm 2008, vượt qua hàng trăm đề án dự thi khác, dự án “Giáo dục nội dung an toàn thực phẩm cho học sinh bằng phương pháp dạy học dự án” của chị lại được Ngân hàng Thế giới tài trợ 215 triệu đồng để triển khai tại trường Tiểu học Lê Hồng Phong và trường Tiểu học Nguyễn Trãi, quận Hà Đông.

Và năm nay, đối tượng mà chị Nho hướng đến không phải là trẻ mầm non hay tiểu học như những năm trước nữa, mà là HS THCS. Chị giải thích, với trẻ em mầm non và tiểu học thì khái niệm BĐKH hơi trừu tượng. HS THCS có khả năng biện luận tốt hơn, hành vi và thái độ của các em có tác động và ảnh hưởng tới cả người ít tuổi hơn và người lớn.

Tuy nhiên, theo chị, HS tiểu học cũng có thể áp dụng đề toán BĐKH này, nhưng ở mức độ đơn giản hơn. Ngay cả trẻ mầm non thì giáo viên cũng có thể áp dụng theo cách như: dùng dây lạt bó lại rồi cho các em đếm... Có nghĩa là với mức độ đề toán khó, dễ khác nhau, ý tưởng này có thể áp dụng được cho tất cả các cấp học.

Hai cô giáo Nho và Quang cho biết, đã triển khai thử một vài đề toán cùng những hoạt động ngoại khóa tại trường THCS Kiến Hưng và thu được kết quả tốt. Sau khi giải đề toán về túi nilon, HS của trường đã thực hiện cuộc phỏng vấn các bà nội trợ để tìm hiểu mức độ phù hợp các đồ dùng thay thế túi nilon, qua đó họ đã thu thập được nhiều ý kiến độc đáo, thậm chí người đặt câu hỏi còn chưa nghĩ đến.

Theo cô hiệu trưởng Trịnh Thị Quang, tháng 7 tới, trường sẽ nhận được số tiền tài trợ cho dự án là 262 triệu đồng. Đó là khoảng thời gian HS đã nghỉ hè, vì thế, dự án sẽ tập huấn kiến thức cho 40 giáo viên của trường. Việc triển khai giảng dạy đề toán BĐKH sẽ bắt đầu khi khai giảng năm học mới.

Sẽ có 40 đề toán như thế được xây dựng để giảng dạy ngoại khóa cho 528 học sinh của trường. Rồi những đề toán và những hoạt động củng cố sau mỗi đề toán ấy sẽ được tập hợp thành một bộ tài liệu và được gửi đến sở GD-ĐT của 63 tỉnh thành trong cả nước cùng 30 trường học khác.

Mặc dù đây mới là một thử nghiệm từ cấp dưới, nhưng những người thực hiện đều tin rằng, sau khi nó được triển khai thành công, sẽ có nhiều trường sử dụng tài liệu của họ áp dụng cho HS của mình. Và nếu có thể, những đề toán độc đáo ấy có thể được đưa vào sách giáo khoa áp dụng cho toàn quốc, thay cho những đề toán bắn chim, săn thú thuở nào...

(Thảo Lê - VietNamNet)
.

Thứ Sáu, 12 tháng 3, 2010

Mẹ không thích đùi gà



Mỗi lần thịt gà, mẹ thường dành ăn phần đầu, chân, cổ, cánh rồi cả phao câu. Đùi, mẹ không ăn, vì “nạc, giắt răng lắm”


Như một thói quen, khi đĩa thịt gà chặt khúc được rắc lá chanh thái chỉ xanh ươm rồi bày lên mâm, bố gảy đũa gắp miếng lườn, em út chọn chỗ cánh sát nách gà thơm ngon, con thích chỗ lườn, vừa vừa thịt, còn mẹ nhận gặm đầu gà.

Bố, con, em út căm thù hai chỗ của con gà, đầu và cánh, toàn xương xẩu cứng nhắc, ăn ăn, mút mút mãi chỉ được chút da, mút cái đầu thì may mắn được cái óc. Ba bố con cũng chẳng bao giờ đụng đũa đến phao câu vì cho rằng nó mất vệ sinh dù được mẹ làm rất kỹ. Hễ miếng nào mấy bố con chê là mẹ ăn nhiệt tình, còn tấm tắc khen ngon. Vì thế, khi vớ được cái cổ, cái đầu hay phao câu, bố con tự động gắp vào bát mẹ.


Tại mẹ thích đầu, cổ gà nên suốt 20 năm trời, mẹ còn ấm ức. Hôm ấy, nhà bác Hóp hàng xóm có cỗ nên mang cho cả nhà một nửa con gà đã luộc. Mẹ xếp thịt ra đĩa, hối hả đi làm, không quên dặn hai chị em đến bữa trưa thì cơm nước trước rồi đi học và phần thức ăn, đậy lồng bàn cho mẹ. Bố là bộ đôi, công tác tận miền Nam. Cả tuổi thơ, con chẳng quen với bố. Mỗi lần về bố được nghỉ phép, con ôm búp bê mà bố mua cho, ngồi co ro ở hiên nhà, mẹ gọi cũng không vào.


Bây giờ, thỉnh thoảng, mẹ vẫn nhắc lại sự kiện ngày xưa ấy: “Trưa đi làm về, bụng đói, mở lồng bàn thì thấy hai đứa để phần một bát cổ, cánh, chân gà mà ứa nước mắt. Tối về hỏi thì nó ngơ ngác trả lời: Mẹ bảo thích ăn đầu gà mà”.


20 năm sau, mẹ vẫn nói thích khi được ăn cổ, cánh gà, kèm theo vài miếng thân gà ngon ngon, chứ tuyệt nhiên không đụng đến đùi gà. Chị em con giờ đã lớn, không tranh gặm đùi gà nguyên chiếc mà đồng ý để chặt đùi thành 3 khúc ngang. Chọn một khúc đùi bằng hai ngón tay đặt vào bát mẹ mà mẹ vẫn chối: “Nhiều nạc lắm, giắt răng”. Sau đó, mẹ đẩy miếng đùi vào bát của em út hoặc của con.

Ảnh minh họa


Phần đùi đúng là nhiều nạc thật nhưng lại ít giắt răng vì nạc ở chỗ đó là những thớ mịn, ngọt và mềm. Chỉ cần khéo dùng tay bóc thịt nạc dọc theo đùi, mẹ sẽ có những sợi thịt ngon ngọt và tơi. So với phần nạc ở sườn hay cánh gà thì rõ ràng, nạc chỗ đùi gà ngon nhất.

Con đã đủ lớn để suy luận mẹ bảo “đùi gà nhiều nạc, giắt răng” là không đúng. Con cũng đủ khôn để không phần mẹ toàn cổ, cánh dù mẹ một mực bảo thích. Con biết chọn những miếng ngon để phần mẹ dù rằng cuối cùng, mẹ lại để phần miếng ngon trong tủ lạnh, cho bữa cơm ngày hôm sau hoặc cho em út ăn với mỳ tôm vào bữa chiều, trước giờ đi học tối.

Mẹ không thích đùi gà vì một con gà chỉ có hai cái đùi, đủ cho hai đứa con. Giống mẹ, bố cũng chẳng ưa đùi gà. Con đã từng ước trở thành “kỹ sư gà” để lai ra giống gà 4 chân, đủ cho mỗi người trong gia đình ta 1 cái đùi. Nhưng con lại học kém môn Sinh, nên ước mơ chỉ là mơ hão.
Thế rồi con nghĩ rằng, cho dù có gà 4 hay 8 chân đi nữa , mẹ cũng không thích đùi gà vì chắc chắn, mẹ sẽ nhường lại cho các con. Tình yêu và sự hy sinh của mẹ sẽ chẳng bao giờ đổi thay.


Theo Trang Nhung (Dân Trí)

.

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2010

Tết trồng cây nhớ Bác


(Baonghean) - Cách đây hơn 50 mùa Xuân, Bác Hồ phát động "Tết trồng cây" đăng trên báo Nhân dân ngày 28-11-1959 với bút danh Trần Lực. Đây cũng là lần đầu tiên trên phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện 3 từ"Tết trồng cây". Chuẩn bị cho"Tết trồng cây" năm ấy, trước đó 6 tháng Bác đã khởi động với bài viết "Nông dân phải trồng cây chuẩn bị làm nhà ở" đăng trên báo Nhân dân ngày 30-5-1959.


Để làm rõ ý nghĩa của việc trồng cây, Bác khẳng định: "Trong đời sống vật chất có hai việc quan trọng nhất là ăn và ở". Người dẫn chứng cụ thể để nhân dân dân thấy rõ hơn: "Trước kia, bọn vua quan thì có gác tía lầu son, bọn địa chủ thì có cửa cao, nhà rộng. Nông dân lao động thì chỉ có lều tranh vách đất, thường không đủ che nắng, che mưa."Từ những so sánh đó, Bác nghĩ tới việc chuẩn bị cây giống cho "Tết trồng cây". Người động viên mọi người: "Ngay từ bây giờ, đồng bào nông dân phải bắt tay vào việc chuẩn bị vật liệu làm nhà. Mỗi người (trong mỗi gia đình, tính cả già, trẻ, gái , trai) phải trồng ít nhất là năm cây (cây xoan và các cây khác có thể làm kèo, làm cột). Và mỗi gia đình phải trồng một bụi tre". Bác phân tích ý nghĩa xã hội của "Tết trồng cây": "Trong mươi năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta".


Đọc lại nội dung các bài viết của Bác Hồ về trồng cây, chúng ta càng thấm thía lời căn dặn của Người, sự quan tâm của Người từ những việc nhỏ nhất, cụ thể nhất đối với đất nước ta, dân tộc ta và mỗi người dân.

Từ "Tết trồng cây" đầu tiên cho đến lúc đi vào cõi vĩnh hằng năm 1969, Bác Hồ đã viết 10 bài cho báo Nhân dân về chủ đề trồng cây. Trong đó có 5 bài Người lấy tiêu đề "Tết trồng cây". Tuỳ từng thời điểm lịch sử mà Bác Hồ phát động "Tết trồng cây" mang tính thời sự về nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Năm 1959, thời điểm cả nước thi đua hướng tới kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng Lao động Việt Nam. Bác viết: "Bên đợt thi đua ấy, chúng tôi đề nghị tổ chức một ngày "Tết trồng cây". Việc này tốn kém ít mà lợi ích nhiều". Người nhấn mạnh: "Đó cũng là một cuộc thi đua dài hạn nhưng nhẹ nhàng mà tất cả mọi người từ các cụ phụ lão đến các em nhi đồng đều có thể hăng hái tham gia".

"Tết trồng cây" năm 1963 trong không khí nhân dân miền Bắc hướng về miền Nam - thành đồng tổ quốc, Bác viết: "Tết trồng cây chẳng những có ý nghĩa kinh tế, mà còn có chính trị to lớn. Trong lúc bọn Mỹ-Diệm dã man bỏ thuốc độc phá hoại cây cối núi rừng ở miền Nam, thì ở miền Bắc nhân ta thi đua trồng cây gây rừng. Chỉ một việc đó cũng đủ làm cho người ta so sánh giữa hai chế độ ta và địch, và nhận rõ sự tốt đẹp của chế độ ta. Ta trồng cây cho ta và cho cả đồng bào miền Nam nữa".

Mùa xuân năm 1965, "Tết trồng cây" thứnăm. Mở đầu bài viết “Năm mới hãy nhiệt liệt tổ chức "Tết trồng cây", Bác dùng câu thơ mộc mạc nhưng khái quát ý nghĩa của việc trồng cây, gây rừng: Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân. Bác viết tiếp: "Tết trồng cây” bắt đầu phổ biến từ mùa xuân năm 1960. Vì lợi ích rõ rệt, cho nên nhân dân hăng hái hưởng ứng và ở nhiều nơi đã thành một phong trào quần chúng. Từ đó đến nay vừa 5 năm, miền Bắc nước ta đã trồng được hơn 375 triệu cây các loại. Ngoài ra còn có hơn 200 triệu cây bảo vệ đê ở vùng biển". Sau khi điểm lại một số địa phương có phong trào khá, Bác biểu dương những nơi mới vươn lên: "Có những tỉnh trước kia kém, nay chuyển khá, như Nghệ An, Sơn Tây". Bác lưu ý với các địa phương "Chúng ta đang chuẩn bị xây dựng nông thôn mới. Việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng nhà ở cho đàng hoàng. Muốn vậy, thì ngay từ bây giờ phải trồng cây nhiều và tốt để lấy gỗ. Chỉ một việc đó đủ thấy cần phải đẩy mạnh phong trào Tết trồng cây... Năm nay, chúng ta sẽ kết thúc thành công kế hoạch năm năm lần thứ nhất và chúc mừng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hai mươi năm.. Đồng bào ta nên hăng hái tổ chức một phong trào Tết trồng cây thắng lợi (cố nhiên trồng cây nào phải tốt cây ấy) để làm món quà kỷ niệm xứng đáng với hai sự kiện ấy".

Năm 1969, trong bàiTết trồng cây cuối cùng, mở đầu Người viết: "Ngày nay, đồng bào ta ai cũng hiểu rõ trồng cây gây rừng có ích lợi to lớn cho kinh tế và quốc phòng. Vì vậy, Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả năm, đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta".

Không chỉ khởi xướng "Tết trồng cây" mà chính Bác Hồ luôn gương mẫu tham gia "Tết trồng cây".Năm 1960 "Tết trồng cây" đầu tiên Bác Hồ trồng cây đa tại công viên Bảy mẫu - tức công viên Thống nhất, nay là công viên Lê Nin - Hà Nội. Sáng mồng một tết Kỷ Dậu, 16-2-1969 tại xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Bác trồng cây đa cuối cùng. Sự kiện này là nguồn động viên lớn lao đối với nhân dân ta, dấy lên phong trào Tết trồng cây đầu xuân đời đời nhớ ơn Bác.

Từ truyền thống Tết trồng cây, năm 1995 ngành Lâm nghiệp vinh dự được Thủ tướng Chính phủ quyết định chọn ngày 28-11 hàng năm là Ngày Lâm nghiệp Việt Nam.

Làm theo lời dạy của Người "Mùa xuân là Tết trồng cây", cùng với cả nước, những năm qua Nghệ An thường xuyên duy trì Tết trồng cây đầu xuân. Hơn 50 năm qua các tầng lớp nhân dân, các địa phương trong tỉnh đã trồng hàng chục triệu cây phân tán. Mỗi năm tết trồng cây từ 2-3 triệu cây phân tán và phát triển 10.000 đến 12.000 ha rừng tập trung. Công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng được cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể Mặt trân Tổ quốc các cấp quan tâm, góp phần quan trọng "vào việc cải thiện đời sống cho nhân dân" và môi trường sinh thái.

Năm nay, cả nước hướng tới kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, xin được nhắc lại lời dạy của Người trong bài viết Tết trồng cây cuối cùng: "Năm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải bảo đảm trồng cây nào tốt cây ấy".
Làm được điều đó chính là chúng ta thực hiện tốt tư tưởng Hồ Chi Minh về Tết trồng cây: "Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân".


Phan Nguyễn

.

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2009

Ðôi bên sông Bùng – Một vùng văn hóa

(Baonghean) - Với tôi, sống xa quê, hình ảnh con sông luôn làm tôi thèm tiếc cả một thời thơ ấu, để rồi mỗi lần được gặp người quê hàn huyên, tôi lại quắt lòng bởi nhớ quê hương da diết...


“Qua nửa đời phiêu bạt
Con lại trở về úp mặt vào sông quê
Ơi con sông dạt dào như lòng mẹ
Che chở con qua chớp bể mưa nguồn…”



Có lẽ nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã nói hộ tình cảm của rất nhiều người xứ Nghệ sống xa quê. Nếu ai biết nhà thơ tài hoa này đã từng sinh ra và lớn lên ở một làng quê, bên con sông Bùng xứ Diễn, hẳn đều đồng cảm và sẻ chia với ông qua tứ thơ này. Riêng với tôi, sống xa quê, hình ảnh con sông luôn làm tôi thèm tiếc cả một thời thơ ấu, để rồi mỗi lần được gặp người quê hàn huyên, hay về quê, tôi lại quắt lòng bởi câu thơ đó.



Lèn Hai Vai

Sông Bùng bắt nguồn từ những dòng sông, suối nhỏ như sông Du, Vũ Giang, Khe Cát của huyện Yên Thành và hợp lưu nơi đất Diễn Châu, chảy qua các xã Diễn Quảng, Diễn Hoa, Diễn Kỷ, sau đó đổ ra biển Diễn Ngọc. Con sông Bùng cứ lặng lẽ trôi – chảy qua miền ký ức. Hình ảnh của vùng quê xứ Diễn luôn lắng đọng trâm tâm tưởng những người con xa quê.
Diễn Châu là vùng đất giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, những địa danh gắn với các huyền thoại như Thành Diễn Châu - nơi chứng kiến trận đánh quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, thế kỉ XV; Cầu Bùng - cây cầu nằm trên con đường huyết mạch Bắc – Nam, nơi được coi là túi bom trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; núi Mộ Dạ - nơi An Dương Vương được thần Kim Quy mở lối thoát về phía biển khi trốn chạy giặc Triệu. Ngày nay ở phía Bắc chân núi Mộ Dạ gần cửa Tư Hiền còn có mộ của công chúa Mỵ Châu.
Đền Cuông thờ vua An Dương Vương

Diễn Châu cũng là nơi phát tích của những anh tài, khoa bảng. Ở Diễn Châu những dòng họ khoa bảng có nhiều, nhưng nổi tiếng nhất là họ Ngô và họ Đặng. Dòng hộ Ngô ở Lý Trai (xã Diễn Kỷ) liên tiếp 4 đời đỗ 5 tiến sĩ. Dòng họ Đặng ở Nho Lâm (xã Diễn Thọ) có 3 cha con đều đỗ đại khoa. Một số tên tuổi đại khoa người Diễn Châu mà cả nước đều biết đến như Ngô Trí Hòa, Ngô Trí Tri, Nguyễn Xuân Ôn…. Về Diễn Châu, dân gian vẫn còn truyền tụng câu đối nôm nói về sự đỗ đạt của 2 dòng họ Ngô – Đặng: “Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa / Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà”.
Nói đến Diễn Châu là nói đến một vùng đất phong cảnh hữu tình. Sách xưa đã từng liệt kê trong số 8 cảnh đẹp của “Đông Yên Nhị Châu” (vùng đất thuộc tổng Yên Thành xưa) thì có 6 cảnh đẹp thuộc về Diễn Châu, đó là: Dạ Sơn Linh Tích (Dấu thiêng núi Mộ Dạ - thuộc xã Diễn An), Cao Xá Long (gò rồng Cao Xá), Bùng Giang Thu Nguyệt (tràng thu trên sông Bùng), Bích Hải Quy Phàm (cánh buồm về cửa Bích), Thiên Uy Thiết Cảng (kênh sắt oai trời), Diễn Thành Thạch Bảo (thành đá phủ Diễn Châu). Tao nhân mặc khách thuở nao đã luôn phải động lòng trước Bích Hải Quy Phàm (cửa Vạn ngày nay). Họ từng phải thốt lên:
Phủ hám Bùng giang cổ độ đầu
Nhất luân minh nguyệt cáp phùng thu
Trùng trùng quế phách hàm giang trữ
Trạm trạm kim hàn tẩm bích lưu.
Có nghĩa rằng:
Cúi đầu nhìn xuống bến đò cũ sông Bùng
Một vầng trăng sáng quắc, ấy chính là buổi đang thu
Phách cây quế trong suốt đến đáy cả bến nước
Chiếc mâm vàng trong trẻo ngâm dưới dòng xanh...
Đến Diễn Châu, không ghé thăm cửa Vạn hẳn đó sẽ là một tiếc nuối. Đứng ở Cửa Vạn nhìn ra Biển Đông với bao la bát ngát của trời, của biển, với nắng và sóng, bạn sẽ nhận ra hồn vía của cả một vùng văn hóa Xứ Diễn. Văn hóa xứ Diễn vừa có nét đặc thù của văn hóa Xứ Nghệ - miền Trung, vừa có sắc thái riêng khiến người ta phải ngạc nhiên. Giọng nói của người Diễn Châu âm điệu khác hẳn với giọng nói của các vùng miền khác ở Xứ Nghệ. Dân Diễn Châu “Ăn to nói lớn”, “Bụng dạ thẳng tưng”, quý người và không để bụng. Họ cần cù, chất phác, chịu thương, chịu khó cho nên đi đâu cũng sống được. Tính cần cù, “thắt lưng buộc bụng”, cộng với sự ham học hỏi đã làm nên thành công của người Diễn Châu khi bước ra cuộc sống. Có lẽ uống nước sông Bùng, tắm phù sa của sông Bùng, cư dân ở đây trong cách ăn, cách nói, nếp nghĩ, nếp làm đều mang “cái gu” khó trộn lẫn.
Không rộng dài, kỳ vĩ như sông Hồng, sông Mã, cũng không thơ mộng như sông Hương… Sông Bùng cứ lặng lẽ chảy giữa đôi bờ xứ Diễn và tạo dựng nên một vùng miền văn hoá rất đặc trưng - vùng văn hoá mang khí thiêng của “lèn Hai Vai- sông Bùng”, trong cái mạch nguồn văn hoá “Sông Lam - Núi Hồng” xứ Nghệ.
Với lợi thế của một vùng đất mà một bên là dải đồng bằng trù phú, màu mỡ, một bên là biển Đông. Cùng với điều kiện tự nhiên cũng ưu ái cho người Diễn Châu, vùng đất được coi như một tiểu vùng không bị ảnh hưởng nhiều của gió Lào (Do có núi Mộ Dạ nằm ở phía Nam nên gió Lào về tới đây bị chặn lại), khiến cho khí hậu Diễn Châu “mát mẻ” hơn so với các vùng miền Trung Bộ khác. Tất cả những điều đó làm cho Diễn Châu được coi là vùng đất “đủ đầy” hơn so với nhiều khu vực khác ở xứ Nghệ.
Hiếm có một dải đất nhỏ hẹp nào lại tập trung nhiều nghề truyền thống như ở Diễn Châu. Đất Diễn Châu với nhiều nghề truyền thống như: luyện thép ở Nho Lâm (Diễn Thọ), dệt vải ở Phượng Lịch (Diễn Hoa), nghề mộc ở Tràng Thân (Diễn Phúc), nước mắm Vạn Phần (Diễn Vạn), nón lá Diễn Đồng, đẽo sò ở Diễn Thành…Cùng với việc duy trì những làng nghề truyền thống, giờ đây Diễn Châu xuất hiện nhiều làng nghề mới theo chuyển dịch cơ cấu kinh tế như chuyên canh cây lương thực Diễn Kỷ; dâu tằm tơ Diễn Kim; bún bánh Diễn Quảng; chế biến hải sản Diễn Bích, Diễn Ngọc; chổi đót Diễn Đoài; đúc đồng, nhôm Diễn Tháp…
Ngày nay, cùng với các vùng miền khác của cả nước, kinh tế của huyện Diễn Châu ngày càng phát triển. Trong dòng chảy của thời kỳ hội nhập, nhưng những bản sắc văn hóa của người dân đôi bờ sông Bùng vẫn không bị nhạt phai. Người Diễn Châu đã, đang và sẽ tạo ra nhiều huyền thoại. Khí thiêng của lèn Hai Vai – sông Bùng luôn tạo ra những con người như thế.
Bất chợt tôi lại…
Gửi hồn neo đậu bến quê
Bao nhiêu xa ngái dồn về một nơi
Sông quê bên lở bên bồi
Để tôi mang nợ cả đời với quê.

Nguyễn Thanh Điệp

Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

Thương lắm phong bì ơi!


(Huỳnh Cương - Congannghean.vn)-Từ ngày chuyển sang cơ chế thị trường, phong bì cũng chuyển đổi chức năng, không còn đựng thư từ mà còn đựng tiền. Tình cảm đã được vật hoá thành ngân hàng, đô la, để người nhận có thể đo đếm được.

Xin các bạn đừng vội cho rằng H.C này cạn kiệt hết vốn chữ nghĩa rồi hay sao mà lại tương một cái tít giật gân như thế lên mặt báo, sặc mùi cải lương, giữa lúc thiên hạ đang cực lực phê phán tệ nạn phong bì.
Hãy bình tĩnh, mọi vấn đề đều phải được xem xét một cách toàn diện, lịch sử theo phép biện chứng.
Nếu bạn đã từng là anh lính hải quân ở trên một hòn đảo chìm, đảo nổi Trường Sa, hẳn bạn sẽ mong chờ da diết một cánh thư từ đất liền gửi ra. Lá thư đựng trong phong bì đã vượt qua hàng triệu ngọn sóng để đến với bạn. Bạn đọc thư và giữ cả chiếc phong bì đó như một báu vật.
Hồi còn nhỏ, ở quê, có lần tôi nhận được phong bì của ông Tổng biên tập báo tỉnh gửi, báo tin mẩu tin bao diêm đầu tiên tôi viết đã được in và động viên tôi tiếp tục cộng tác. Tôi sung sướng còn hơn bắt được vàng. Tôi dán chiếc phong bì lên bức vách cạnh tấm huân chương kháng chiến của bố tôi và mãi đến nay vẫn còn giữ được mấy dòng chữ của sếp nhà báo.
Các bạn thấy chiếc phong bì có đáng yêu, đáng trọng không nào.
Từ ngày chuyển sang cơ chế thị trường, phong bì cũng chuyển đổi chức năng, không còn đựng thư từ mà còn đựng tiền. Tình cảm đã được vật hoá thành ngân hàng, đô la, để người nhận có thể đo đếm được.
Giờ đây, không có phong bì làm sao có thể dễ dàng xin đất làm nhà, chữa bệnh chóng khỏi, đưa con vào trường điểm, chạy xuất khẩu lao động. Rồi còn chạy chức, chạy quyền, chạy học hàm học vị..., mua các danh hiệu cao quý, trở thành sao trên các lĩnh vực đời sống.
Phong bì trở thành đồng loã với những kẻ xấu, trở thành vật bao che cho những cái đen tối trong lòng nó.
Không có phong bì làm sao các xếp tham nhũng có xe hơi xịn, có biệt thự nguy nga, có tiền gửi ngân hàng nước ngoài, nếu như mọi người chỉ biết tặng mấy bông hoa rẻ tiền và cảm ơn mồm.
Nói như thế không phải vơ đũa cả nắm, vẫn còn những phong bì trong sáng, nhân ái khi chúng ta câm nó bỏ vào thùng, chia sẻ khó khăn, nhường cơm sẻ áo cho đồng bào bị lũ lụt, cho những em bé đang cần mổ tim, cho những gia đình bị chất độc đi - ô - xin...
Những kẻ tham nhũng hí hửng đón nhận phong bì hối lộ, sau khi say sưa kiểm tra món ngân hàng, đô la, cẩn thận bỏ vào tủ sắt, khoá lại liền vứt toẹt chiếc phong bì vào sọt rác. Cảnh giác hơn họ cho một mồi lửa để phi tang. Phong bì bị thiêu sống. Thương lắm phong bì ơi!

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2009

Phạt 500 triệu hành vi săn, bắn động vật rừng, vận chuyển lâm sản trái phép

(Chinhphu.vn) - Với mức phạt cao như vậy, Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 2/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã tạo cơ sở pháp lý để phạt nặng các hành vi vi phạm, hạn chế tình trạng chặt phá rừng và khai thác lâm sản trái phép đang gia tăng hiện nay.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2010 và thay thế Nghị định số 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007.
Mức phạt cao nhất tới 500 triệu đồng

Người VPHC trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Ngoài ra, tùy theo tính chất mức độ vi phạm mà còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả.

Theo đó, người có hành vi lấn, chiếm rừng trái pháp luật bị phạt tiền từ 2 - 50 triệu đồng; vi phạm các quy định của Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy rừng gây cháy rừng bị phạt từ 3 - 50 triệu đồng tùy theo hậu quả đã gây ra.

Người có hành vi phá rừng trái pháp luật thì bị phạt từ 200.000 đồng đến 50 triệu đồng tùy theo diện tích rừng bị phá hoặc loại rừng là rừng sản xuất, rừng phòng hộ hay rừng đặc dụng. Đối với các hành vi khai thác rừng trái phép, mức phạt có thể lên tới 200 triệu đồng.

Đặc biệt, người có hành vi săn, bắn, bẫy, bắt; nuôi, nhốt; giết động vật rừng trái pháp luật; vận chuyển lâm sản trái pháp luật hay mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái các quy định của Nhà nước có thể bị phạt với mức cao nhất là 500 triệu đồng.

So với Nghị định 159/2007/NĐ-CP quy định mức phạt cao nhất chỉ tới 30 triệu đồng, Nghị định mới đã tăng mức xử phạt cao gấp nhiều lần, góp phần hữu hiệu trong việc ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng và khai thác lâm sản trái pháp luật.
Thầm quyền xử phạt
Lực lượng Kiểm lâm và Chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.

Các cơ quan chức năng như Công an, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Thuế, Quản lý thị trường, Thanh tra, các chủ rừng có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan Kiểm lâm trong việc kiểm tra, thanh tra, ngăn chặn các hành vi vi phạm.

Nghị định cũng quy định cụ thể thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thủ tục xử phạt và thi hành quyết định xử phạt.

Phương Mai
(Nguồn: Nghị định 99/2009/NĐ-CP)

Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2009

Kỹ thuật trộn thư cao cấp trên MS Word2003

Thông thường khi sử dụng chức năng Mail Merge (trộn thư) trong MS Word để tạo ra các mẫu thư mời hay phiếu báo điểm... mặc định của chương trình là ứng với mỗi một Record dữ liệu nhất định sẽ tạo ra một trang tập tin Main chính trên một trang giấy (A4) tương ứng. Khi đó nếu nội dung của tập tin main chính quá ít bạn sẽ thấy trên trang giấy sẽ còn rất nhiều chỗ trống và nếu bỏ đi thì thật là đáng tiếc, thủ thuật sau sẽ giúp bạn tuỳ biến số lượng mẫu tin in ra sau khi trộn trên tập tin Main chính nhằm để tiết kiệm giấy.

Để có thể làm tốt thao tác trong bài viết này đòi hỏi bạn phải thành thạo kỹ năng Mail Merge cơ bản trong MS WORD

1. Chuẩn bị trước nội dung tập tin Main chính trên WORD2003 và tập tin danh sách cơ sở dữ liệu để trộn trên EXCEL2003 (danh sách này có thể dùng Table trên WORD cũng được).
2. Mở mới một Document WORD trắng, kích hoạt thanh công cụ Mail Merge.
3. Nhấp chọn nút công cụ Main document setup, xem hình 1.


Hình 1


4. Chọn chức năng tạo nhãn Labels trên hộp thoại Main Document Type, xem hình 2.


Hình 2


5. Trên hộp thoại Label Options nhấp chọn tên một kiểu nhãn phù hợp trong khung Product number, xem hình 3.


Hình 3


6. Nhấp nút New Label để thiết kế lại kích thước nhãn tùy biến theo khuôn mẫu vừa mới chọn: lần lượt điều chỉnh lại các thông số kích thước lề trên, dưới, độ rộng, chiều cao cho phù hợp với khổ giấy A4 (chọn ở mục Paper Size) tương ứng, lưu ý đến hai thông số quan trọng: Number across (số nhãn thể hiện theo cột), Number down (số nhãn thể hiện theo hàng), đặt tên cho mẫu label mới vào dòng Label name xong nhấp OK để đồng ý khởi tạo mẫu, xem hình 4.


Hình 4


* Hướng dẫn thêm: Ví dụ ở đây tôi muốn trên cùng một trang giấy A4 (khổ đứng) sẽ in ra được 2 phiếu báo điểm nằm theo kiểu hàng (trên và dưới) thì sẽ thiết lập number across (1) và number down (2), tương tự như vậy bạn có thể tùy biến thoải mái các thông số này nếu muốn in ra nhiều phiếu hơn trên cùng một mặt giấy.
7. Trở về hộp thoại Label Options bạn nhấp chọn mẫu tên Label vừa tạo, nhấp OK để bắt đầu quá trình trộn thư, xem lại hình 3.
8.Lúc này trên trang WORD trắng sẽ có một khung bảng (kiểu một cột, hai dòng) đúng như thiết kế ở bước 6, bạn lần lượt sao chép phần nội dung tập tin Main chính đã chuẩn bị (ở bước 1) vào hai khung trống này, xem hình 5.


Hình 5


9. Nhấp nút công cụ Open data Source (nút thứ hai từ trái qua) trên thanh Mail Merge để đưa vào tập tin danh sách EXCEL cơ sở dữ liệu đã chuẩn bị ở bước 1, xem hình 6.


Hình 6


10. Khi đưa vào tập tin EXCEL sẽ xuất hiện hộp thoại Select Table yêu cầu bạn xác định lại lần nữa thật chính xác Sheet chứa cơ sở dữ liệu chính thức, xem hình 7.


Hình 7


11.Trở lại giao diện trộn thư của WORD bạn nhấp chọn vào các vị trí cần điền nội dung trên tập tin “giấy báo điểm thi”, nhấp nút Insert Merge Fields (nút thứ sáu từ trái qua) trên thanh Mail Merge lần lượt chèn vào các cột tương ứng cho đúng vị trí, xem hình 8.


Hình 8


* Hướng dẫn thêm:
o Lần lượt chèn vào các Fields theo đúng thứ tự trên nội dung tập tin Main, tiến hành hai lượt cho mẫu giấy báo điểm bên trên và phía dưới (không được dùng thao tác Copy xuống dưới vì sẽ gây lỗi trong kết quả trộn), tương tự như vậy bạn sẽ phải tiến hành lần chèn công thức 3- lần 4 nếu như trên khổ giấy A4 thể hiện thêm 3 hay 4 mẫu phiếu báo điểm cùng loại.
o Khi chèn vào các công thức trường Fields bạn nên chọn chế độ thể hiện in đậm (Bold) để tạo ra hiệu ứng nổi bật đồng loạt trên các mẫu phiếu báo điểm sau khi trộn.
o Lưu ý: sau mẫu phiếu báo điểm thứ hai (bên dưới) lúc này sẽ có một công thức <>, bạn di chuyển công thức này lên sau ngay bên dưới của mẫu phiếu báo điểm thứ nhất (nếu bạn trộn ba mẫu phiếu báo điểm trên cùng mặt giấy thì lúc này chỉ có công thức <> dưới phiếu báo 1, phiếu báo 2, mà không có sau mẫu 3), xem hình 9.


Hình 9


12.Nhấp nút công cụ Merge to new document (nút thứ tư tính từ phải qua) trên thanh công cụ Mail Merge để xuất kết quả trộn thư sang một tập tin DOC mới. Trong hộp thoại qui ước trộn chọn All để trộn tất cả cơ sở dữ liệu hay From…to để trộn trong khoảng cách các record cố định tùy ý, nhấp OK để đồng ý, xem hình 10.

Hình 10


13. Kết quả của tập tin trộn thư sẽ theo đúng thiết kế (2 phiếu trên cùng một trang) và thứ tự từ một cho đến hết của các mẫu tin trong danh sách cơ sở dữ liệu Excel, xem hình 11.


Hình 11


(Trần Đại Minh Trí)

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2009

Trái đất nóng lên dông bão càng nhiều và phức tạp


Mặt trời là lò phản ứng khổng lồ, tổng hợp hiđrô thành hêli với công suất 5,3 tỉ tỉ mêgaoat. Cứ mỗi giây đồng hồ, mặt trời truyền cho trái đất một năng lượng gần 5000 triệu kilôoat/giờ. Chính năng lượng này gây ra các hiện tượng mưa, gió, dông, bão… Hiện nay, cùng với hiện tượng trái đất ngày càng nóng lên, dông bão hình thành ngày càng nhiều, diễn biến phức tạp và vô cùng nguy hiểm.

Nước ta ở bờ Tây Thái Bình Dương, trong 71% diện tích được bao phủ, diện tích Thái Bình Dương chiếm một nửa. Quanh Thái Bình Dương có tới 360 núi lửa đang hoạt động, chiếm 85% số núi lửa trên thế giới và chiếm tới 80% số lần động đất, nguồn gốc của các đợt sóng thần khủng khiếp. Thái Bình Dương không những rộng mà còn rất sâu, chỗ sâu nhất là hồ Mariana sâu hơn 11km. Nhiệt độ trung bình của nước biển Thái Bình Dương là 19oC nhưng có tới 1/4 diện tích có nhiệt độ trên 25oC. Ở vùng vĩ độ 7o Bắc, nhiệt độ nước biển lên tới 280C chính là nơi bắt nguồn các cơn bão lớn. Nhiệt độ nước biển cao làm cho nước biển bay hơi mạnh tạo thành những đám mây có nhiều hơi nước, nên khi có giông bão cũng thường kéo theo các trận mưa lớn gây nên lụt lội.

* Các cơn dông thường xảy ra vào mùa hè nóng bức. Những nơi mùa hè càng dài càng có nhiều cơn dông. Nơi có nhiều cơn dông nhất là thành phố nhỏ Maowa - Indonesia có vĩ độ 6o36’, một năm có 322 ngày có dông và hàng ngàn lần sét đánh. Bán đảo Lôi Châu (Trung Quốc) trung bình một năm có 130 ngày có dông. Sét đánh làm hỏng ống khói, đường dây điện, cháy rừng chết người... Cơn dông có khi kèm theo mưa đá, vòi rồng rất nguy hại. Các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu thiết bị “tên lửa phá dông”. Trước khi có cơn dông, người ta phóng tên lửa này lên không trung, nó sẽ liên tục kích thích sự phóng điện nhỏ để không gây ra những lần phóng điện lớn (sét đánh).

* Các cơn bão là hiện tượng không ngăn chặn được. Bão xảy ra do mặt biển nhiệt đới có nhiệt độ cao, độ ẩm lớn. Không khí nóng bốc lên cao, ngưng tụ thành mưa, giải phóng nhiều nhiệt. Không khí mặt biển lại tiếp tục nóng lên, mặt biển lại bốc hơi nước lên cao, không khí nóng, ẩm càng tăng nhanh, cứ tuần hoàn như vậy sẽ hình thành những vùng áp thấp. Không khí lạnh xung quanh đổ dồn vào trung tâm áp thấp tạo nên một dòng xoáy lớn. Người ta gọi đây là cơn lốc nhiệt đới (áp thấp nhiệt đới), thông thường không phát triển thành bão, chỉ khi nào cơn lốc nhiệt đới được bổ sung liên tục không khí nóng ẩm và phía trên cơn lốc nhiệt đới hình thành một vùng tản nhiệt mạnh mẽ, khiến cho không khí nóng ẩm ở vùng thấp bốc lên luôn luôn tản ra xung quanh, khi ấy sẽ có thể phát triển thành bão.

Bão là một dòng xoáy không khí rất lớn, có đường kính từ mấy trăm đến hàng ngàn kilômét, độ cao khoảng trên 9km, cá biệt có thể vươn cao tới 27km. Trung tâm bão có một vùng rỗng, đường kính khoảng 10km, gọi là mắt bão. Ở đó không khí tĩnh lặng, trời trong. Xung quanh mắt bão là những bức tường mây dày đặc, là vùng mưa gió khủng khiếp. Bão di chuyển giống như con quay vừa xoay, vừa tiến lên. Đường đi của bão thường hay đổi hướng, tốc độ gió rất lớn khoảng 40-60m/s, cá biệt lên tới 110m/s. Lượng mưa của mỗi trận bão vào khoảng 200-300mm, có khi lên tới 1000mm, do đó bão thường kèm theo lũ lụt.

Các thông tin về bão cho biết kinh độ, vĩ độ của tâm bão và tốc độ di chuyển của bão, vậy làm thế nào để biết bão ở cách xa bao nhiêu và sau bao lâu bão sẽ đến? Giả sử kí hiệu kinh độ và vĩ độ của tâm bão là λb và φb, tọa độ nơi ta ở là λ và φ. Mặt đất có dạng mặt cầu, để tính khoảng cách chính xác khoảng cách trên mặt cầu phải dùng lượng giác cầu (nhưng nước ta ở gần xích đạo, dùng hình học phẳng có phạm sai số nhưng không lớn). Mỗi độ theo kinh độ hay vĩ độ có độ dài bằng chu vi trái đất chia cho 360o, gần bằng 111km. Vậy khoảng cách từ tâm bão đến nơi ta ở là đường chéo của hình chữ nhật có hai cạnh là 111 ׀ λb - λ ׀ km và 111 ׀ φb - φ ׀ km. Các giá trị λb, λ, φb, φ tính bằng đơn vị là độ (theo số thập phân). Khi biết được khoảng cách, biết tốc độ sẽ tính được thời gian bão đến.

* Dông và bão đều hình thành ở mặt biển có nhiệt độ cao (miền nhiệt đới). Trái đất nóng lên do công nghiệp và giao thông phát triển, thải vào khí quyển một lượng khí khổng lồ, chủ yếu là khí CO2 làm cản trở sự bức xạ hồng ngoại của trái đất vào không gian vũ trụ, nên nhiệt độ trái đất tăng làm băng tuyết tan, mực nước biển dâng cao, gây mất cân bằng sinh thái..., dẫn đến dông bão hình thành nhiều và diễn biến phức tạp hơn, khoảng thời gian có dông bão cũng kéo dài thêm.

Để ngăn cản sự biến đổi khí hậu, việc đầu tiên con người có thể làm là trồng cây và bảo vệ rừng. Cây cối hấp thụ khí CO2 sẽ giảm thiểu hiệu ứng nhà kính. Đồng thời phải hạn chế sử dụng năng lượng hóa thạch như than đá, dầu mỏ bằng cách tăng cường dùng các năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều, thủy điện, các năng lượng tái tạo như khí biogas, etanol...

Theo dự báo, nước ta là một trong 5 nước bị tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu. Đề phòng và hạn chế tác hại của dông bão là việc cấp bách và quan trọng nhưng cũng chỉ là biện pháp tình thế, còn việc ngăn cản và hạn chế sự biến đổi khí hậu toàn cầu mới là nhiệm vụ sống còn của mọi quốc gia./.

(PGS. Nguyễn Đình Noãn)

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2009

WTC bị 'san phẳng' và cuộc ném bom 'san phẳng' VN


- Để cho sự kiện đau đớn như 11/9 hay chiến tranh Việt Nam không xảy ra, cần có tầm nhìn nhân loại. Nếu chỉ nhìn thấy biên giới quốc gia, như cậu tôi thấy lũy tre quanh làng ở Hoa Lư, hay đồng nghiệp nhìn qua hàng rào nhà mình bên DC, chắc chắn còn xung đột.

Ground Zero - một dấu tích của sự kiện 11/9. (Ảnh: Hiệu Minh)


Cậu ruột của tôi rất quí những đứa cháu học hành đến nơi đến chốn, thoát ra lũy tre làng để lập thân, trong đó có tôi. Mỗi lần tôi thăm quê, mẹ thường mời họ hàng thân quen, trong đó có cậu, tới chơi nhà. Ngoài chuyện làm ăn, chuyện đường xa, cậu rất quan tâm đến nước Mỹ.

Câu hỏi của cậu là “Nước Mỹ có văn minh không?”. Đương nhiên câu trả lời là “có”. “Tại sao đế quốc Mỹ lại mang bom ném Việt Nam?"

Làng Tụ An thanh bình thuở nào bên dòng sông Hoàng Long yên ả, chẳng có gì đáng gọi là mục tiêu quân sự. Cống thủy lợi Trường Yên tưới tiêu cho cả tỉnh Ninh Bình. Thế mà nơi đây từng hứng chịu vài lần bom đạn đế quốc Mỹ, thực hiện "giấc mơ " làm "phẳng" miền Bắc của Tổng thống Mỹ lúc đó là Johnson. Giữa năm 1968, cống bị oanh tạc, mấy chục người chết thảm. Hai bên mố cống bị sụt lở và nứt. Năm đó lũ lụt đã tiếp tay phá tan đê. Hàng vạn người kêu khóc, trẻ em bà già nheo nhóc chạy lũ lên núi vào một đêm đen tối. Cậu tôi ghét đế quốc Mỹ là đương nhiên.

Năm 2005, sau khi định cư ở Mỹ vài năm, tôi về thăm. Lại câu hỏi khác về nước Mỹ: “Họ có mạnh không?”. Câu trả lời: “Mỹ mạnh nhất thế giới, cậu ạ”. “Mạnh mà để Bin Laden tấn công?”.

Cậu nói với vẻ hài lòng: “Ném bom làng mình, gây tội ác, thì phải nhận hậu quả thôi”. Đó là cách người nông dân ít học quê tôi nghĩ về sự kiện 11/9.

Vào 8 giờ 46 phút sáng 11/9/2001, chiếc máy bay American Airlines số 11 chở khách đầu tiên lao vào tầng 80 đã chia cắt những tầng lầu trên đó thành ốc đảo. Rất nhiều người thấy lửa cháy đang liếm dần lên tầng của mình, đã nhảy tự tử từ trên cao 300-400m vì biết không thể thoát. Trước khi chết, họ cũng căm thù tột độ những kẻ khủng bố cũng không kém so với ông cậu khi nhìn bom rơi xuống làng tôi mấy chục năm trước.

Người New York, thấy hai tòa tháp từ từ sụp xuống như que kem bị nắng hè làm tan chảy, vô cùng căm hận 19 tên cướp 4 máy bay. Tòa tháp đôi (Twin Towers) "phẳng" như bình địa (Ground Zero)

Bin Laden tính toán rất kỹ để đạo diễn vụ này. 11/9/2001 rơi vào thứ 3, máy bay ít người đi lại, hành khách chống trả sẽ yếu hơn. Vừa cất cánh nên rất nhiều xăng đủ thiêu đốt tòa nhà hàng trăm tầng. Tháng 9 mùa thu nước Mỹ, trời trong xanh và nắng vàng rực rỡ, quay tivi hay chụp ảnh thật tuyệt diệu.

Máy bay đầu lao vào tòa nhà phía Bắc, chiếc sau chậm khoảng 15 phút, đủ thời gian cho các hãng thông tấn tới quay cảnh tòa nhà đang cháy. Chiếc thứ hai đâm vào tòa tháp phía Nam trước các ống kính ti vi đã lắp sẵn sàng để truyền hình trực tiếp cú lao khủng khiếp.

911 cũng là số gọi cảnh sát hay chữa cháy. Bên Mỹ, tháng ghi trước ngày nên mới có 9/11, nghĩa là ngày 11 tháng 9. Nhắc đến 911 nghĩa là nhắc đến nỗi đau khôn nguôi của người Mỹ.

Một đồng nghiệp kể về ngày tuyệt vọng đó tại Washington DC trong tòa nhà cách Nhà Trắng đúng một phố. Vừa ngồi vào bàn làm việc thì ai đó hoảng hốt báo một máy bay hành khách lao vào tòa tháp đôi ở New York. Cả nhóm sang xem ti vi mà không biết chiếc United Airlines 175 đang tới. Anh nhìn thấy chiếc máy bay đâm vào tòa nhà, khối lửa bùng lên trên ti vi do CNN quay trực tiếp.

Vì chuyện xảy ra ở New York nên Washington DC cách xa 500km không cảm thấy ngay. Các anh đang đứng bàn tán chợt nghe tiếng còi rú inh ỏi ngoài đại lộ Pensylvania, Lầu Năm góc bị tấn công. Khói đen bay cao ngất trời. Mục tiêu tiếp theo có thể là Nhà Trắng cách đó một phố. Anh cảm thấy chưa chắc còn sống để quay về nhà với các con.

Hàng chục ngàn nhân viên vội ra lấy xe ở gara để về. Nhưng khi đó đã quá muộn. Đường phố Washington DC chật cứng. Từ gầm gara lên đến đường vài chục mét, anh đợi khoảng 6 tiếng. Con nhỏ ở trường không ai đón.

Nước Mỹ hỗn loạn, người nào cũng im lặng, vẻ mặt thất thần. So với trận ném bom của Mỹ năm 1968 ở Việt Nam hay lụt do vỡ đê của dân cố đô Hoa Lư đó, sự hoảng loạn tại thủ đô Hoa Kỳ cũng không khác mấy.

Với cậu tôi ở Trường Yên, bạn đồng nghiệp hay người thân của gần 3.000 linh hồn đã chết oan uổng dưới đống tro tàn của Trung tâm Thương mại Thế giới, Lầu Năm góc hay chiếc máy bay rơi ở Pensylvania thì những kẻ gây ra tội ác đáng bị treo cổ.

Tại sao còn có người Việt Nam ghét đế quốc Mỹ. Xin hỏi cậu tôi và những người bị mất mát trong chiến tranh.

Tại sao cả nước Mỹ căm thù Bin Laden và đồng bọn. Xin hỏi những người đã sống qua ngày 11/9 trong sự hoảng loạn đến tột cùng.

Tại sao một số dân Palestine lại hân hoan vào ngày 11/9? Xin đến bờ Tây, Dải Gaza xem họ sống như tù nhân trên chính tổ quốc mình.

Nước Mỹ thay đổi sau khi người lính cuối cùng rút khỏi Sài Gòn năm 1975. Cú đâm máy bay vào tòa tháp đôi và Lầu Năm góc của Bin Laden đã thay đổi cả thế giới.

Tổng thống Nixon muốn Việt Nam đầu hàng, nhưng phải ngồi vào hội nghị Paris, để cuối cùng rút chạy trong cay đắng. Tổng thống Bush định đưa thế giới từ đa cực thành đơn cực do Mỹ làm bá chủ nhưng thất bại. Quốc gia Nga hay cạnh tranh với Mỹ đã không còn mạnh như trước, nhưng cùng lúc đó, Trung Quốc và Ấn Độ lại trỗi dậy.

Tìm cách tiêu diệt hết kẻ thù để không còn khủng bố như Bush muốn là không thể. Giải tán Taliban ở Afganistan, treo cổ Sadam Hussen tại thành Baghdad lại có những thế lực khác thích máu đổ lại nổi lên.

Khi những kẻ thông minh dùng trí não cho việc giết đồng loại thì rất đáng sợ. Bin Laden đạo diễn vụ tấn công nước Mỹ là một minh chứng. Basayev tổ chức tấn công trường học Beslan ở Nga có kịch bản tương tự, giết càng nhiều càng tốt.

Để cho sự kiện đau đớn như 11/9 hay chiến tranh Việt Nam không xảy ra, cần có tầm nhìn nhân loại. Nếu chỉ nhìn thấy biên giới quốc gia, như cậu tôi thấy lũy tre quanh làng ở Hoa Lư, hay đồng nghiệp nhìn qua hàng rào nhà mình bên DC, chắc chắn còn xung đột.

Thế giới phẳng cần lãnh đạo “phẳng”, chính trị “phẳng”, chiến lược “phẳng”, nghĩa là tìm ra giải pháp đôi bên hay nhiều bên cùng có lợi. Cách tiếp cận “trạng chết chúa cũng băng hà” để tìm cách "san phẳng" nhau chỉ mang lại thêm đau khổ. Khăng khăng cái “lưỡi bò” làm của riêng thì nhất định sẽ còn hàng xóm thù địch lẫn nhau.

Bàn về 11/9, người đồng nghiệp đã bình tâm hơn. Anh nói, giá như mọi người biết đặt quyền lợi của mình trong cái chung, sẽ không có thảm họa. Nếu nghĩ đến cả cộng đồng thì ai cũng là người chiến thắng. Vơ vét cho riêng mình sẽ tự tiêu diệt. Cộng đồng toàn những kẻ tham lam, bạc bẽo, ngày kia sẽ tàn lụi.

Xa hơn nữa là tầm quốc gia và toàn cầu. Nghĩ đến “của mình, nước mình” thì thảm họa kiểu 11/9 hay chiến tranh Việt Nam tương tự sẽ còn, mà kẻ ích kỷ gây ra chưa chắc đã thoát bị trừng phạt, bằng cách này hay cách khác, dưới dạng này hay dạng khác.

Chỉ có điều, người lương thiện như cậu tôi, bạn tôi, người viết bài và kể cả độc giả sẽ bị thiệt thòi nhất. Bài học 11/9 với Twin Tower bị "san phẳng" thành Ground Zero hay cuộc ném bom "san phẳng" Việt Nam còn đó mãi với nhân loại.


(Hiệu Minh -Vietnamnet)

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2009

Về bài thơ "Lời cầu nguyện của rừng"




Trong ngành lâm nghiệp hầu như ai cũng biết hoặc nghe nói đến bài thơ "Lời cầu nguyện của rừng" của tác giả B.B, nhưng chưa được biết xuất xứ và chưa có được trọn vẹn bài thơ này.

B.B tức kỹ sư Bùi Bá, sinh năm 1918 và mất vào năm 1991, tốt nghiệp Trường Cao đẳng nông lâm Brévié Hà Nội năm 1940. Ông đã giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ lâm nghiệp thuộc Bộ lâm nghiệp và sau đó là chuyên viên cao cấp tại Bộ.

Được biết giáo sư Lê Văn Ký, hiện giảng dạy tại trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh (Thủ Đức) biết rõ xuất xứ về bài thơ Lời cầu nguyện của rừng, và được phép của giáo sư, chúng tôi xin đăng tải về nguồn gốc bài thơ mà giáo sư đã sưu tập được (*).

Trường Quốc gia Nông - Lâm - Mục khai giảng vào tháng 12 năm 1955 gồm có ba ngành Nông - Lâm - Súc. Năm 1957, anh Nguyễn Hữu Đính, kỹ sư thủy lâm lão thành ở Huế, có gửi tặng trường bảng Danh từ lâm học Pháp Việt cùng với bài thơ Lời cầu nguyện của rừng của anh Bùi Bá; hai tài liệu này anh Đính đã mang từ Bắc về khi đi dự một hội nghị về lâm nghiệp ở miền Bắc. Sau đây là nguyên văn bài thơ:

Người hỡi!
Người có biết, những đêm đông giá lạnh, ta bốc hơi ấm lửa hun nồng;
Người có biết, những ngày nắng gắt, ta cho tàn mát rượi ánh thiêu nung;
Người có biết, dười sườn nhà đồ sộ, ta cho người dầu dãi nắng mưa chan;
Người có biết, trên nếp giường êm ấm, người nương ta an giấc điệp mơ màng;
Người có biết, kìa con thuyền vượt sóng, ta đưa người du ngoạn khắp năm châu;
Người có biết, nọ chuôi cày xới đất, ta vun cây cho nảy nở hoa màu.
Chính ta đã rước người vào cuộc thế, trong chiếc nôi âu yếm mẹ đưa ru.
Rồi ta sẽ tiễn người khi vĩnh biệt, làm áo quan ấm áp giấc nghìn thu.
Người hỡi người, nghe lời ta cầu nguyện: Chớ hại ta mà vũ trụ âu sầu...

Để ta sống, ta điều hòa mưa nắng, hoa xinh tươi cây cối nẩy thêm tươi.
Để ta sống, ta ngăn luồng vũ bão; chận cát bay làn gió bốc tung trời.
Để ta sống, ta đùn mây quyện gió, gieo mưa tuôn đầm ấm cõi trần gian.
Để ta sống, ta cản dòng nước lũ, cứu nhân dân cơn thủy nộ lầm than.
Ta là Mẹ của muôn nền hưng thịnh, làng hưng phong xây dựng nước hưng phong.
Ta tô điểm non sông nên gấm vóc, cây xanh cao lá biếc lớp trùng trùng
(Ta bảo vệ chiến khu và chiến sĩ, chống xâm lăng ta kháng chiến oai hùng)
Người hỡi!
Hồn Tổ quốc ngự giữa rừng sâu thẳm,
Rừng điêu tàn là Tổ quốc suy vong!
B.B

Vì lý do an ninh nên tác giả phải viết tắt là B.B và câu cuối (Ta bảo vệ chiến khu và chiến sĩ...) lúc ấy là một hàng chấm chấm. Mãi đến năm 1982, trong dịp anh Bùi Bá đến dự Hội thảo trên Trường Đại học nông nghiệp 4 ở Thủ Đức, tôi trình bày việc bài thơ Lời cầu nguyện của rừng đã được phổ biến rộng rãi ở miền Nam từ năm 1957, thì anh mới thêm câu ấy vào cho bài thơ nguyên thủy.

Đọc kỹ bài thơ Lời cầu nguyện của rừng, thấy rằng phần trên (10 câu đầu) là phỏng dịch từ bài La Prière de la Forêt:
Còn hai câu thơ cuối là dịch từ hai câu thơ của André Theuriet:

Các ngành lâm học Pháp đều biết bài Prière de la Forêt. Chúng tôi, kỹ sư thủy lâm Việt Nam cũng có nghe nói đến bài thơ ấy. Cụ thể là một ông giám đốc thủy lâm người Pháp lúc đó có gắn bằng chữ gỗ bài Prèire de la Forêt ở cửa vào Nha thủy lâm miền Nam ở đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) và Sở thủy lâm Đà Lạt có dựng một tấm bảng to sơn bài thơ này ở Cam Ly trên đường vào Trung tâm thực nghiệm lâm học Manline, cạnh phần mộ của ông Nguyễn Hữu Hào.

Năm 1960, trong chuyến đi tham quan Trung tâm nghiên cứu và giáo dục lâm nghiệp Dehra Dun (Ấn Độ) (Forest Research Institute and College), tôi thấy trên tường nhà ăn sinh viên có ghi bài thơ tiếng Anh Prayer of the Forest, xem lại là dịch nguyên văn bài thơ Prière de la Forêt.

Năm 1962, trong chuyến tham quan các Trung tâm nghiên cứu và Trường đại học lâm nghiệp ở Liên bang Đức, tại Trường Đại học Freiburg, tình cờ tôi gặp trên một tờ báo Lâm nghiệp cũ một bài thơ tựa đề Das Gebet des Waldes (Lời cầu xin của rừng). Tôi mang bài thơ nhờ giáo sư Prodan dịch dùm ra tiếng Pháp thì thấy đúng bài Das Gebet des Waldes là bài Prière de la Forêt.
Sau đây là nguyên văn bài Das Gebet des Waldes.

Bà quản thủ thư viện Trường Đại học lâm nghiệp Freiburg theo lời yêu cầu của tôi đã truy tầm và cho biết Hannes Tuch là một cán sự lâm nghiệp, sinh ngày 2.11.1906, sống ở Kreis Warburg, Westphalie, Tây Đức. Ông còn là một nhà sưu tầm đồ cổ và sản xuất các loại mặt nạ v.v...

Tôi theo địa chỉ biên thơ cho ông Hannes Tuch, cho ông biết bài thơ của ông đã được dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Việt để phổ biến nhiều nơi trên thế giới. Ông ta trả lời rất vui mừng đồng thời lưu ý một điều là bài thơ ông làm theo lối cổ "Stabreim" của xứ Saxon: ba hay bốn từ trong một câu bắt đầu bằng một chữ cái:

Như vậy đã rõ là để viết bài thơ tuyệt tác Lời cầu nguyện của rừng, anh Bùi Bá đã lấy ý từ bài Prière de la Forêt của Pháp; còn bài Prière de la Forêt không có âm vần, không có tên tác giả, là dịch gần như nguyên văn từ bài Das Gebet des Waldes của Hannes Tuch, một nhà lâm nghiệp, thi sĩ của Đức...

Người ghi: HUỲNH MINH BẢO
GS. LÊ VĂN KÝ
====================



LỜI CẦU NGUYỆN CỦA RỪNG
(Vương Tam Mộc* và Tiến Trực)

"Mấy lời nhắn nhủ với người
Rừng sưởi ấm bạn khi trời giá băng,
Nắng hè như nấu như nung
Rừng dâng gió mát, bóng tùng thiếu chi
Gỗ rừng, bạn cất nhà đi
Đóng giường, đóng tủ thiếu gì mà lo
Đóng tàu đủ cở nhỏ to
Cán sẻng, cán cuốc làm cho vừa tầm
Cổng cửa, rào dậu quanh sân
Bàn giấy, bàn viết, di van bạn ngồi
Tuổi già bạn lánh cỏi đời
Rừng tặng cấp sũ thảnh thơi ngả mình
Nghe rừng khẩn khoản thanh minh
Xin đừng phá hoại rừng xanh ích gì ?
Bổ sung là lệ thường khi
Khai thác là phải bù trì ngay cho
Rừng dầy xanh tốt cây to
Hưng vượng Tổ quốc, cần lo hỡi người.

(*Tên hiệu của GS Vương Đình Xâm)

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2009

Cải cách…website


Một trong những yêu cầu chính của việc xây dựng Chính phủ điện tử và cải cách TTHC là website của những cơ quan nhà nước phải cập nhật thông tin liên tục, giúp người dân tra cứu thông tin cần thiết một cách nhanh chóng, thuận lợi và tiết kiệm thời gian.

Mới đây, Bộ Thông tin & Truyền thông đã ban hành Thông tư quy định tiêu chuẩn website của cơ quan Nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi truy cập. Thông tư này còn khuyến khích các trang thông tin của Bộ, ban, ngành hỗ trợ cho đối tượng là người khuyết tật. Đây có thể coi là hoạt động thúc đẩy quá trình xây dựng Chính phủ điện tử nhanh hơn và cải cách hành chính mạnh mẽ hơn.

Cách đây vài năm, khi phong trào thành lập website bùng nổ, nhiều cơ quan nhà nước, cty, tổ chức đã thành lập website. Số tiền tiêu tốn cả chục triệu đồng. Tuy nhiên, không ít website đã làm người dân thất vọng bởi thông tin nghèo nàn, xoay quanh nội dung tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, thếit kế quá đơn giản và lịch cập nhật thông tin có thể tính bằng…quý.

Vẫn biết, có một điều khó cho các cơ quan khi xây dựng website là cần người để quản lý và cần thêm 2-3 người phụ giúp công việc viết bài, cập nhật tin liên tục. Nhân viên của cơ quan ấy sẽ phải làm việc nhiều thêm, hoặc cơ quan sẽ phải tuyển thêm một vài nhân sự, bộ máy có thể thêm cồng kềnh, tốn kém. Tuy nhiên, nếu cứ dựa vào lý do này thì rất khó để có một sự cải cách, một sự đổi mới mang lại lợi ích cho người dân và thay đổi nề nếp làm việc của nhiều nhân viên Nhà nước.

Thực tế cho thấy, không ít lần các phương tiện thông tin đại chúng lên tiếng phản ánh viên chức của một số cơ quan Nhà nước khá nhàn rỗi, dư thừa thời gian. Tại sao các cơ quan không sử dụng đội ngũ này, tập huấn kỹ năng làm việc website với họ để sử dụng lao động hợp lý hơn; thậm chí trả thêm thù lao xứng đáng với công sức họ bỏ ra.

Phải chăng, việc xây dựng website, hưởng ứng việc xây dựng Chính phủ điện tử và CCHC chỉ là hoạt động phong trào, nhanh chóng bước vào thoái trào bởi sự lười biếng học hỏi của không ít cơ quan, tổ chức?

Thông tư của Bộ Thông tin & Truyền thông mới ban hành được xem như hành lang pháp lý chặt chữ để mọi website của cơ quan Nhà nước được giám sát, nhằm hoạt động hiệu quả hơn và phục vụ người dân một các thiết thực nhất. Và chắc chắn, những website “rỗng ruột” sẽ sớm bị loại bỏ.

(Thanh Hoàn - An Ninh Thủ Đô 14/8)

HOA SỮA



Hoa sữa, người thương kẻ ghét

Trong hàng trăm loài cây xanh đô thị, có lẽ cây Hoa sữa là cây gây nhiều ấn tượng cho nhiều người nhất.

Ai đã từng tiếp cận thơ ca nói về Hoa sữa thì đó là một đối tượng tuyệt vời. Với thơ ca hiện đại, Hoa sữa từng làm cho bao người ngây ngất. Trong hàng chục bài thơ nói về Hoa sữa, có đến 6 bài mang tên "Hoa sữa" đăng ở website Thi Viện, trong đó bài của Hải Như, với 16 câu mà có đến 12 lần điệp từ "hoa sữa". Đó là thơ, tính phổ cập cộng đồng chưa bằng nhạc. Hàng chục bài hát ca tụng vẻ đẹp, hương thơm của loài cây Hoa sữa, được hát đi hát lại đây đó, đã góp phần rất lớn vào việc gây ấn tượng khó phai đối với nhiều người. Nào là "... Hoa sữa vẫn ngọt ngào đầu phố đêm đêm. Có lẽ nào anh lại quên em,... (Hoa sữa - Hồng Đăng)", (... Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội, mùa hoa sữa về, thơm từng cơn gió... (Nhớ mùa thu Hà Nội - Trịnh Công Sơn), "... Nhớ phố Khâm Thiên, đường Nguyễn Du những đêm hoa sữa thơm nồng... (Nhớ về Hà Nội - Hoàng Hiệp)", "... Chỉ còn mùi hoa sữa nồng nàn trong căn phòng nhỏ, đêm cuối thu trăng lạnh mờ sương ... (Im lặng đêm Hà Nội - Phú Quang)", "... Hoa sữa thôi rơi, em bên tôi một chiều tan lớp... (Hà Nội mùa vắng những cơn mưa - Trương Quý Hải)... Có lẽ từ đó, trong tâm khảm của nhiều nhà quản lý đô thị, Hoa sữa là một loài cây cho hoa đẹp, hương thơm, nên phát triển là một việc làm hay. Do vậy, Hoa sữa đã có điều kiện lên ngôi, nhiều thành phố, thị xã, thị trấn của hàng chục tỉnh thành khắp cả nước rộ lên phong trào trồng Hoa sữa.

Tuy nhiên, ai đã từng chung sống với hàng hoa sữa vào độ sung sức, trăm hoa đua nở, chịu cảnh đêm đêm ngửi mùi hoa hăng hắc nồng nặc, đến nỗi viêm mũi dị ứng, hắt hơi, sổ mũi, thì Hoa sữa là một "đối tượng đáng gờm". Đã có quá nhiều bài báo phản ánh nhược điểm này của cây Hoa sữa trên vỉa hè đường phố ở một số khu đô thị. Cư dân thành phố nhiều nơi đã than oán, kêu van, rồi ngậm ngùi chấp nhận, vì họ chẳng làm sao thay đổi được thực trạng. Đó là chưa nói, lắm trường hợp vào mùa nắng nóng, trong khi mọi người đang mong có thêm màu xanh, thêm bóng mát, thì cả hàng cây hoa sữa bị sâu bệnh tấn công, cành lá khô cháy, tiêu điều, xơ xác; đến mùa quả chín nứt nẻ rồi khô đi, nhưng không rụng mà cứ treo lủng lẳng thành từng về trông tựa những về rác thải khó nhìn.

Hoa sữa là một loài cây gỗ rừng, mọc tự nhiên rải rác ở ven rừng tự nhiên, ven sông, ven suối. Gỗ nhẹ, dùng làm nhiều đồ dùng thông thường; vỏ dùng trị một số bệnh đường ruột và chữa sốt. Nhưng đặc biệt hơn cả là gỗ của nó đã từng được dùng làm bảng con cho học sinh, nên trong tên khoa học của nó - Alstonia scholaris - đã có tính ngữ Latin "scholaris: thuộc về nhà trường", và vì thế mà có tên tiếng Anh là Blackboard Tree. Cây thuộc họ Trúc đào - Apocynaceae, phân bố ở miền Nam Trung Quốc (Quảng Tây, Vân Nam - với tên gọi là Đường giao thụ), Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka, Indonesia, Malaysia, Papua New Guinea, Philippines, Queensland.

Do cây tạo bóng tốt, cho hoa màu trắng sữa đẹp, mùi hương của hoa khi thoang thoảng gây cảm giác dễ chịu, nên đã được dẫn giống trồng làm cây bóng mát nhiều nơi. Tất nhiên, trong môi trường đô thị việc chọn nơi trồng và mật độ trồng là điều quan trọng. Lạm dụng trồng dày đặc ở khu dân cư sẽ gây ra hội chứng hoa sữa nồng nặc rất phản tác dụng. Tuy thế, ở nhiều địa bàn trung du và thượng du trong khu vực miền Trung, mặc dù đã có sẵn nguồn gen bên cạnh, nhưng vì quen gọi dưới một tên gọi khác là Mò cua hay Mù cua, nên cũng chạy vạy bỏ tiền ra tìm mua cho bằng được Hoa sữa Hà Nội về trồng. Khi cây sống, đơm hoa nở nhụy thì mới ngờ ngợ rằng quê mình đã có.
.
Qua một số thông tin vừa nêu, chúng tôi nghĩ rằng cây Hoa sữa không phải là loài cần loại ra khỏi hệ thống cây xanh đô thị. Điều quan trọng là nên trồng vừa phải, điểm xuyết mỗi nơi vài ba cây, và đặc biệt nên tránh trồng quá gần khu dân cư.
.


Theo Đỗ Xuân Cẩm

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2009

SỰ THẬT VỀ BÀI DÂN CA "GIẬN MÀ THƯƠNG"

Lâu nay, khán giả được nghe nhiều ca sĩ hát thành công bài dân ca Nghệ Tĩnh "Giận mà thương". Tiếc rằng, dù trên sân khấu hay trên các đài phát thanh, truyền hình, khi ca sĩ thể hiện bài dân ca này, đều không thấy giới thiệu tác giả đặt lời. Và nhiều người cũng không hiểu cặn kẽ nội dung của bài dân ca nói về chuyện gì.

Lời của bài dân ca là thế này: "Anh ơi khoan vội bực mình/ Em xin kể lại phân minh anh tỏ tường/ Anh cứ nhủ (bảo) rằng em không thương/ Em đo lường rất chi cặn kẽ/ Chính thương anh em bàn với mẹ/ Phải ngăn anh đi chuyến ngược Lường/ Giận thì giận mà thương thì thương/ Anh đi sai đường em không chịu nổi/ Anh ơi anh, xin đừng có giận vội/ Trước tiên anh phải tự trách mình".



Bìa album “Giận mà thương” của NSND Thu Hiền do Hãng phim Trẻ phát hành năm 2002.


Rõ ràng, nghe hát, nhiều người không hiểu được người con trai ấy "đi sai đường", là đường gì mà khiến cô gái "không chịu nổi"? Lại nữa, "chuyến ngược Lường" nghĩa là sao? Họ là vợ chồng hay anh em ruột? (vì có chung người mẹ) v.v...

Xin thưa rằng, lời bài hát trên chỉ là trích đoạn trong vở kịch dân ca Nghệ Tĩnh "Khi ban đội đi vắng" của nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong (1929-1990). Ông quê ở làng Trung Phường, xã Diễn Minh, huyện Diễn Châu, Nghệ An, nguyên Phó ty Văn hóa tỉnh Nghệ Tĩnh (gồm 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay); là tác giả vở chèo "Cô gái sông Lam" nổi tiếng

"Khi ban đội đi vắng" là vở kịch ngắn, trong đó các nhân vật đối đáp với nhau, giải quyết xung đột bằng cách hát các làn điệu dân ca xứ Nghệ, giống như diễn chèo, cải lương vậy. Nhà viết kịch Nguyễn Trung Phong là một trong những người đầu tiên đưa dân ca Nghệ Tĩnh vào kịch.

Vào những năm đầu thập kỷ 70, một số vở ca kịch của ông, trong đó có "Khi ban đội đi vắng" đã được Đoàn chèo Nghệ Tĩnh và nhiều đội văn nghệ nghiệp dư của địa phương dàn dựng thành công. Năm 1973, Ty Văn hóa Nghệ Tĩnh cũng cho xuất bản tập kịch hát dân ca lấy tên là "Khi ban đội đi vắng", tập hợp một số vở kịch hát của các tác giả Nguyễn Trung Phong, Nguyễn Trung Giáp v.v...

Vở kịch ngắn "Khi ban đội đi vắng" kể về "anh cu Thành", lợi dụng lúc Ban đội đi vắng, định làm một việc phi pháp. "Ban đội" là gọi tắt của Ban quản lý đội sản xuất của Hợp tác xã nông nghiệp thời bao cấp. Nơi "anh cu Thành" nhắm tới là chợ Lường.

Chợ Lường ở mạn ngược, thuộc huyện Đô Lương, Nghệ An, nổi tiếng về buôn bán trâu bò và chè xanh. Dân ở mạn xuôi thuộc các huyện Diễn Châu, Yên Thành… lên mạn ngược mua trâu bò, khoai sắn, chè xanh về xuôi bán kiếm lời gọi là "đi ngược". "Anh cu Thành" tranh thủ "khi ban đội đi vắng", lên chợ Lường buôn lậu gọi là "đi ngược Lường". Trong vở ca kịch này, âm mưu của "anh cu Thành" là "ngược Lường" buôn lậu… chè xanh!

Đó là loại chè người ta chặt cả cành, bó lại thành mớ như mớ rau. Khi cần uống, cấu bớt cành, rửa sạch, cho vào ấm đun như… sắc thuốc bắc! Ngày ấy, đối với dân mạn xuôi, chè xanh là thứ... xa xỉ! Những ông cán bộ như Nguyễn Trung Phong, nhân tiện đi công tác mới dám mua mấy bó chè xanh về thết đãi hàng xóm.

Có lẽ thế hệ trẻ bây giờ, nhiều người không hiểu nổi vì sao thứ chè xanh ngày ấy lại khan hiếm và là hàng quốc cấm? Là bởi, thời bao cấp, hàng nông sản, thực phẩm như chè, lạc, trâu bò, lợn v.v. chỉ được phép bán cho Nhà nước; người nào mang chè xanh, chè búp, lạc v.v... đi bán kiếm lời được cho là buôn lậu.

Vì vậy, mới có chuyện "anh cu Thành" lợi dụng "Khi Ban đội đi vắng" để buôn lậu chè xanh! Bữa đó, Ban đội đi vắng, việc quản lý nhân sự trong đội sản xuất bị buông lỏng. Nhân cơ hội này, "anh cu Thành" quyết đi buôn chè xanh! Nhưng, âm mưu "đen tối" của anh ta nhanh chóng bị cô vợ vạch trần!

Khi biết được âm mưu của chồng, cô ta liền bàn với mẹ chồng, tìm cách chặn đứng hành vi sai trái của anh ta. Biết chuyện, mẹ của kẻ định buôn lậu này là bà Tâm, một đảng viên lâu năm, đã cùng con dâu lập phương án, chặn đứng hành vi "đi sai đường" của "anh cu Thành"!

Âm mưu bị phá, anh cu Thành trách vợ rằng không thương chồng. Cô vợ thanh minh rất quyết liệt rằng, dù anh có "giận thì giận mà thương thì thương", còn cô, trước âm mưu định đi buôn lậu chè xanh của chồng là "sai đường", cô không chịu nổi! Việc cô làm không phải là nông nổi, bồng bột mà đã "đo lường rất chi là cặn kẽ" và được mẹ chồng đồng tình ủng hộ. Anh không thể trách cô là không thương chồng được, mà hãy tự trách mình!

Đoạn thanh minh của người vợ với chồng trong vở ca kịch trên chính là nguyên văn của bài hát "Giận mà thương" mà lâu nay chúng ta được nghe. Và từ hoàn cảnh ra đời bài này có thể giúp thế hệ hôm nay và mai sau hiểu hoàn cảnh sống của một thời thiếu thốn!

(Theo Cao Thâm/CAND)
.